Articles by "Chính trị"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Quả thật, Dân chủ mới chính là giá trị sống cao nhất của mỗi quốc gia, mà vì nó, thang bậc văn minh giữa các quốc gia cho thấy sự cao thấp- khai mở hay tối tăm khác nhau- một tầm lịch sử.

Sau đây là một vài trích-đoạn từ bài diễn-văn của tổng-thống Obama tại Gran Teatro, Havana, Cuba, dưới sự chứng-kiến của tổng-thống Raul Castro và khoảng một ngàn khách tham-dự. Bài nói chuyện cũng đã được phát-hình trực-tiếp trên các đài truyền-thông tại Cuba vào ngày hôm qua 22-3-2016.
“Kính thưa quý vị,
Havana chỉ cách Florida có 90 dặm. Vậy mà để đến được đây chúng ta đã phải đi qua một chặng đường quá dài, phải vượt qua bao nhiêu rào cản của lịch-sử, của đau thương, và của ly-biệt…
Biết bao nhiêu trăm ngàn người di dân Cuban đã tìm cách vượt qua khoảng không-gian ngắn ngủi này–bằng phi-cơ hay trên những chiếc bè tự-chế, để đến được bến bờ của tự-do và cơ-hội, bỏ lại sau lưng bao nhiêu tài-sản cũng như bao nhiêu người thân…
Hôm nay tôi đến đây để chôn những di-vật cuối cùng của cuộc Chiến-Tranh Lạnh. Tôi đến đây để bắt tay và kết bạn với người dân Cuba…
Nhưng chúng ta không thể, và không nên, bỏ qua những dị-biệt giữa hai thể-chế, hai nền kinh-tế và hai xã-hội. Cuba là một chế-độ độc-đảng, Hoa-Kỳ là một nền dân-chủ đa-nguyên. Mô-hình kinh-tế của Cuba là xã-hội chủ-nghĩa, của Hoa-Kỳ là thị-trường mở. Cuba nhấn mạnh vai trò và quyền-lực của nhà nước, Hoa-Kỳ được xây-dựng trên tư-quyền của cá-nhân…
Tôi xác-minh rằng Hoa-Kỳ không đủ sức và cũng không muốn ép Cuba phải thay đổi. Cuba có thay đổi hay không, điều đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào ý muốn của người dân Cuba…
Chúng tôi thừa hiểu rằng mỗi dân-tộc phải tự vẽ ra con đường cho chính mình. Nhưng vì chúng ta vừa thoát ra khỏi cái bóng đè của lịch-sử nên tôi xin phép được thẳng-thắn chia sẻ với quý vị những suy nghĩ của mình, cũng như của nhân-dân Hoa-kỳ nói chung….
Thi-sĩ Jose Marti của Cuba từng viết: “Tự-Do là quyền được sống thật, được suy nghĩ và phát-ngôn mà không cần phải ra vẻ đạo-đức giả.” Thế nên tôi cũng xin nói với các bạn những điều tôi hằng tin. Tôi không cần các bạn phải đồng-ý, nhưng các bạn cần biết tôi tin những gì.
Tôi tin rằng tất cả mọi người đều bình-đẳng trước pháp-luật. Tôi tin rằng nhân-phẩm của trẻ em phải được bảo-vệ bằng giáo-dục và y-tế, bằng cách cho chúng cơm ăn áo mặc và nhà cửa tử-tế. Tôi tin rằng mọi công-dân đều có quyền phát-biểu ý-kiến mà không sợ bị bắt-bớ. Ai cũng có quyền lập-hội, quyền chỉ-trích nhà nước, và quyền phản-đối trong ôn-hoà. Tôi tin rằng pháp-luật không được phép bỏ tù người dân khi họ sử-dụng những quyền căn-bản này. Tất cả mọi người đều phải có quyền tự-do tín-ngưỡng. Và dĩ-nhiên tôi cũng tin rằng mọi cử-tri phải được quyền chọn người đại-diện chính-phủ cho mình qua những cuộc bầu-cử tự-do và dân-chủ.
Không phải ai cũng đồng-ý với tôi hay với người dân Mỹ về những điểm này. Nhưng tôi tin rằng các nhân-quyền nói trên áp-dụng cho tất cả mọi người. Nó đúng cho dân Mỹ, cho dân Cuba, và cho tất cả mọi dân-tộc khác trên thế-giới…
Vì vậy, đây là thông-điệp tôi muốn nhắn gửi đến nhà nước cũng như nhân-dân Cuba:
Những lý-tưởng cách-mạng–của Hoa-Kỳ, của Cuba, của bao cuộc nổi dậy khác trên thế-giới, tôi tin rằng chỉ thật sự có ý-nghĩa khi chúng được đặt trên nền-tảng dân-chủ. Tôi tin như vậy không phải vì nền dân-chủ của nước Mỹ là toàn-hảo, mà bởi vì nó KHÔNG toàn-hảo. Đất nước chúng tôi, cũng như bao quốc-gia khác, cần không-gian rộng lớn của dân-chủ để tự điều-chỉnh. Bất cứ người dân nào cũng có thể là nhân-tố cho sự thay đổi, đưa ra những ý-tưởng mới, sáng-lập những mô-hình xã-hội tốt đẹp hơn. Ngay lúc này và ngay trong nước Cuba, một sự tiến-hoá cũng đang ngầm xảy ra; một thế-hệ người dân Cuban mới đang thành-hình…
Có người nghĩ rằng tôi đến đây để kêu gọi người dân đập đổ một cái gì đó. Nhưng sự thật là tôi muốn kêu gọi thanh-niên Cuba hãy kéo nhau đứng lên để xây-dựng một cái gì đó.
Tôi hết sức cảm tạ tấm thịnh-tình của tổng-thống Castro. Tôi tin rằng việc tôi đứng đây hôm nay chứng-tỏ ông không có gì để phải lo sợ từ phía Hoa-kỳ.
Với lòng quyết-tâm bảo-vệ chủ-quyền và sự tự-trị của Cuba, ông cũng không cần sợ tiếng nói đa-chiều của dân-chúng hay lo-lắng khi họ được quyền phát-ngôn, tụ tập hoặc bầu chọn người lãnh-đạo…
Tôi cũng có nhiều kỳ-vọng cho tương-lai bởi vì giữa người Cuban với nhau đang xảy ra một cuộc hoà-hợp hoà-giải. Tôi biết nhiều người Cuban trên đảo vẫn cho rằng những kẻ bỏ xứ ra đi năm xưa vẫn còn ủng-hộ chế-độ cũ. Tôi nghĩ họ cứ tin là những người di-dân kia đã không nhìn thấy những tệ-nạn xã-hội thời tiền-cách-mạng và không chấp-nhận cuộc đấu-tranh để xây dựng một tương-lai mới.
Nhưng tôi có thể xác-định với quý vị rằng những người di-dân kia đang cưu-mang bao nhiêu ký-ức đau thương của những cuộc cách-ly đầy máu và nước mắt. Họ yêu Cuba, và một phần của họ luôn luôn xem nơi đây là chốn quê nhà. Chính vì vậy mà nỗi đau của họ rất sâu, và không ít người đã trở nên quá khích. Riêng đối với cộng-đồng người Cuba mà tôi được dịp gặp-gỡ và tiếp-xúc, đây không phải chỉ là một vấn-đề chính-trị mà còn là chuyện gia-đình. Họ nhớ đến căn nhà cũ, họ mơ được quay về nối lại mối thâm-tình bị đổ vỡ. Họ mong được gầy dựng một ngày mai sáng sủa hơn. Họ đặt niềm tin vào sự kết-hợp và hoà-giải dân-tộc….
Những người Cuba đầu tiên tôi được biết là những người di-dân đầy nhiệt-huyết và tài-năng ở Mỹ. Ngoài sự đau khổ tinh-thần của kẻ biệt-xứ họ còn phải chịu đựng biết bao điều khốn-khó ở một đất nước xa lạ. Họ đã phải làm việc cật-lực để mưu-sinh và để cho con cái mình có cơ-hội vươn lên trong xã-hội Mỹ. Bởi thế cho nên việc hoà-hợp hoà-giải giữa các thế-hệ con cháu của những người cách-mạng và con cháu những thế-hệ di-dân sẽ là nền tảng cho tương-lai của Cuba.
Lịch-sử giữa Hoa-Kỳ và Cuba có cách-mạng, chiến-tranh, đấu-tranh, hy-sinh, ân-oán, và bây giờ là hoà-giải. Đã đến lúc chúng ta bỏ quá khứ lại sau lưng. Đã đến lúc chúng ta cùng quay hướng nhìn về tương-lai. Đây chắc chắn không phải là việc dễ và sẽ có lúc chúng ta gặp phải chướng-ngại. Công việc này sẽ đòi hỏi rất nhiều thời-gian. Tuy nhiên, những ngày ở Cuba vừa qua cho phép tôi đặt niềm tin và hy-vọng vào nhân-dân Cuba. Chúng ta có thể đồng-hành như bạn, như láng giềng, và như người thân trong gia-đình.
Si se puede. Mucho gracias. Thank you.”
(transl. by ianbui) 



Tôi mong giới tinh hoa có thể nghĩ nhiều hơn về nông dân Việt Nam khi viết những đề án triệu đô, ngàn tỷ. Hướng tới phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng nhất của hội nhập.

Trở tay có kịp?
Hoàng Hường:Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng phát biểu hội nhập sẽ "tạo thêm động lực cải cách thể chế, giúp xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch và thúc đẩy đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam". Để đạt được mục tiêu như Thủ tướng nói, cần những chuẩn bị gì về mặt nhân lực?
Giờ này mà nói là “chuẩn bị” thì  không còn sớm nữa, mà phải gọi là “trở tay” cho kịp. Hội nhập đã vào nhà mất rồi, chúng ta khoá được vài cánh cửa thuế quan, nhưng có những giao dịch dịch vụ, giao dịch sở hữu trí tuệ, chất xám thì đã vượt hàng rào thuế quan từ lâu.
Bà Đỗ Thùy Dương:
Có hai cách để chuẩn bị về nhân lực:
Thứ nhất: nội lực. Chúng ta cần chiến lược phát triển tổng thể  Quốc gia trong giai đoạn tới. Theo đấy, sẽ xác định đâu là những ngành trọng điểm mà chúng ta không thể không đầu tư quyết liệt. Ví dụ như nông nghiệp và du lịch. Những ngành nào ta có thể kết hợp để tận dụng lợi thế của các quốc gia cùng hợp tác như giáo dục, đào tạo, y tế, dịch vụ...
Những lĩnh vực nào có thể bứt phát vượt trội và trở thành lĩnh vực được nhắc đến như là lợi thế cạnh tranh tuyệt đối ví dụ như CNTT, chế biến xuất khẩu các sản phẩm tinh từ nguồn nguyên liệu có sẵn…
Sau đó theo từng cấp độ ưu tiên, chúng ta có thể đưa ra chiến lược đầu tư vào đào tạo, phát triển. Giáo dục và công nghệ sẽ kết hợp chặt chẽ với nhau để có thể cho ra đời những “nhân sự đạt chất lượng cao nhất” đáp ứng “khung năng lực” của những nghề trọng điểm. Nếu chúng ta vẫn theo đuổi “công nghiệp hoá hiện đại hoá trên diện rộng” như hiện nay thì khó có thể thành tựu được.
Thứ hai, sử dụng đòn bẩy ngoại lực khi thu hút và phân bố đầu tư nước ngoài. Chúng ta mở cánh cửa đầu tư thì đều thấy rằng, doanh nghiệp nước ngoài không nên tập trung vào Hà Nội và TP HCM như trước đây, mà nên được khuyến khích học đầu tư theo chiều dài đất nước.
Theo đó, lực lượng lao động trình độ cao có thể cống hiến cho quê hương, và dần lan toả, tạo những cộng đồng mới, thay đổi lối sống, tập quán theo kiểu cũ, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời, họ sẽ hỗ trợ được những người yếu thế như lao động phổ thông, nông dân.
Việc thúc đẩy xây dựng các trung tâm kinh tế, thương mại văn phòng tại các thành phố vệ tinh xung quanh các thành phố lớn tôi cũng thấy đón đầu được xu hướng này. Giờ điều cần làm là các thành phố đó được chủ động và tư vấn đúng cách để thu hút nhân sự giỏi, là con dân của quê hương mình và các khu vực lân cận về đóng góp.
Việc thu hút đầu tư nước ngoài cần tính tác động lâu dài. Còn nếu chỉ nhìn vào tổng mức đầu tư để vui mừng, thì tôi sợ rằng chúng ta lại sẽ quay trở lại cái thời "nhịn miệng đãi khách”  theo cách “bọn trẻ nhà em ăn cơm hết rồi, có con gà thì mời bác khách hết cả".
Như vậy, cái cần nhìn là một chiến lược tổng thể cấp quốc gia. Chúng ta hội nhập rất nhiều, nhưng từng người nông dân, công nhân, tri thức, nhà báo, luật sư... thấy vai trò của mình trong câu chuyện hội nhập ra sao?  Giống như mỗi khi nhà có khách, ai cũng biết mình sẽ làm gì để tiếp khách cho tốt. Khách này lại là bạn làm ăn, nên cũng phải tìm hiểu cho kỹ và phối hợp cho nhịp nhàng.
Đợi chuẩn bị kỹ sẽ chẳng bao giờ hội nhập được
Hoàng Hường: Nhiều doanh nghiệp và quản lý nhân sự lo lắng hàng hóa nội địa có thể ế ẩm, lao động trong nước gia tăng thất nghiệp do kỹ năng công nghiệp thua kém lao động nước ngoài. Lo ngại này có cơ sở không, trước mắt nên có những giải pháp gì, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Thùy Minh: Việc cấp thiết và quan trọng hơn là chúng ta phải làm gì để những lo lắng đó không xảy ra: cần những nỗ lực nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp của Việt Nam; trang bị và đào tạo những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho người lao động của ta để họ sẵn sàng, thậm chí là trở thành nguồn lao động “giá cao” trên “sân chơi” này.
Bà Đỗ Thùy Dương: Chúng ta lo như thế nhiều năm nay rồi. Từ hồi tôi còn là sinh viên đại học Ngoại thương, học về WTO cũng y chang những nỗi lo như thế; rồi còn tìm đủ mọi cách để bảo hộ bao bọc cho các doanh nghiệp trong nước, mà lại bảo hộ nhầm. Ví dụ hồi đó không bảo hộ phát triển nông nghiệp mạnh hẳn lên, mà lại bảo hộ sản xuất ô tô. Thế nên đến giờ nông nghiệp và người nông dân vẫn chưa được chuẩn bị cho hội nhập gì thì lại chuẩn bị có sóng lớn
Như vậy, cứ đợi chuẩn bị kỹ thì rất có thể chúng ta chẳng bao giờ hội nhập được cả. Bài học đó, sự chuẩn bị đó có lẽ đã đến lúc không còn là đóng cửa dạy nhau nữa, mà phải mở cửa ra để chính thị trường và nền kinh tế cạnh tranh thúc đẩy hoàn thiện các doanh nghiệp, đáp ứng mục tiêu mới
Tôi nghĩ nhiều hơn đến các vấn đề xã hội và thất nghiệp sau hội nhập. Người nông dân có thể không còn đất nền nông nghiệp, cần thay đổi cách đầu tư dựa vào sức người và nền nông nghiệp tự nhiên nữa.
Và để làm như vậy, cần có sự chú tâm nhiều hơn của các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội giúp những người dân không dùng Internet, không đi làm, không có điều kiện được học hỏi và học tập, được biết về những sự chuẩn bị cần thiết với họ khi hội nhập. Chẳng mấy nữa đâu, họ sẽ phải đối diện với rất nhiều những câu hỏi mà không ai giúp. Những câu trả lời nóng vội dựa trên lợi ích ngắn hạn sẽ làm phát sinh rất nhiều các vấn đề xã hội, sau này khó có thể giải quyết được.


Hoàng Hường:Cuối cùng, điều ông/bà mong đợi/lo ngại nhất trong vấn đề hội nhập là gì?
Ông Trần Việt Thái: Từ góc độ cá nhân, tôi kỳ vọng hội nhập sẽ mở ra một tương lai tốt hơn cho thế hệ sau. Tôi mong con tôi sẽ được hưởng nền giáo dục tốt hơn, sống trong một xã hội văn minh hơn.  
Bà Đỗ Thùy Dương: Tôi lo cho những người nông dân. Ở một đất nước có 70% dân số làm nông nghiệp, thì không có nỗi lo nào lớn hơn. Tôi đang ăn cơm gạo họ trồng, rau trên vườn nhà họ. Dẫu có nhiều sự lựa chọn khác, công nghiệp hơn, có thể an toàn hơn, nhưng tôi không sống một mình như thế. Còn phải làm gì để người nông dân sẵn sàng cho hội nhập, cần nghiên cứu sâu hơn.
Tôi mong đợi sức ép từ hội nhập sẽ khiến giới doanh nhân tri thức, những tinh hoa của đất nước có đủ động lực, và sự bền bỉ để vượt qua thử thách này, để bộc lộ sức mạnh tiềm ẩn mà họ đang có. Tôi tin rằng, chúng ta hoàn toàn có khả năng làm giàu một cách minh bạch hoặc ít nhất là sống sung túc.
Cuối cùng, tôi mong rằng, giới tinh hoa này có thể nghĩ nhiều hơn về nông dân Việt Nam khi viết những đề án triệu đô, ngàn tỷ của mình. Để chúng ta phát triển mà vẫn tạo điều kiện cho những người nông dân có thể học hỏi và trở thành một phần trong sự phát triển đó? Biết là lợi nhuận và tốc độ của những dự án nhân văn như vậy sẽ thấp hơn việc chúng ta làm theo cách cũ, nhưng có lẽ, hướng tới phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng nhất của hội nhập.
Bà Nguyễn Thị Thùy Minh: AEC không phải là mục tiêu hội nhập duy nhất ở Việt nam nhưng tôi có nhiều mong đợi đối với vấn đề hội nhập này. Khi chúng ta đứng trên một sân chơi chung thì cạnh tranh và tự khẳng định mình là một động lực để chúng ta phát triển bền vững. Tôi tin tưởng Chính phủ Việt nam cùng với các nước trong cộng đồng ASEAN có những chính sách và lộ trình cụ thể cho từng mục tiêu, vì vậy tôi đang chờ đợi sự chuyển mình tốt đẹp mà hội nhập mang lại.
Hoàng Hường(Thực hiện)
Thì đây cơ quan tôi, bố chưa về hưu, con vừa ra trường đã được “nhắm” chỗ, đàng hoàng theo diện thu hút nhân tài.

Như cách nói của các bác trên tivi, chỗ tôi “xa trung tâm, xa cực tăng trưởng, xa vùng kinh tế trọng điểm” nên cái gọi là kinh tế nhiều thành phần không thấm tháp gì, tất tần tật nhờ vào “anh” kinh tế chủ đạo.

Cán bộ ăn rồi chủ yếu lo lương giáo viên đã bở hơi tai, còn người dân lo đủ thứ, nhưng lo nhất lâu nay vẫn là chuyện con cháu… vào biên chế! Có biên chế là có tất, gần thì hưởng lương tháng, chưa kể thu nhập khác, xa thì có lương hưu, khỏi lo lắng gì.

Hàng xóm nhà tôi, con gái đến “tuổi cập kê”, gặp anh chàng chả nghề ngỗng gì suốt ngày đàn hát thì buồn khổ ra mặt. “Con ơi, sau này về già nó chẳng có lương hưu y như bố mẹ mày đây à? Thế thì khổ suốt đời, con ạ, bố mẹ mày khổ thế này chưa đủ hay sao mà mày còn nhắm mắt lao vào…”

Chả thế mà cơ quan tôi lâu nay có quy định: hễ bố mẹ về nghỉ (nghỉ hưu, rất khuyến khích nghỉ sớm) ngay lập tức cho con vào thế chỗ, số biên chế trên giao không bị “phình”, tình nghĩa đồng nghiệp sau trước đảm bảo, vô cùng đúng với câu cha ông vẫn nói “hy sinh đời bố, củng cố đời con”.

Cháu tôi, thuộc diện “con nhà nghèo học giỏi”, cha đi cày, mẹ đi cấy nên xác định ngay từ khi vào đại học: muốn có công ăn, việc làm, vào biên chế sớm khi không thể “vật” nổi với nhiều người khác, thì chỉ có cách nhận công tác miền núi, vùng sâu vùng xa. Ở đó, biên chế có nhưng thiếu người. Cứ lên, mọi chuyện tính toán, lo lót sau, mình còn trẻ, đời còn bao la.

Và cứ thế, muôn vàn cách để có “biên chế”. Chỉ đáng nói ở chỗ, có người “củng cố” được cả bố lẫn con, người thì… mất trắng!***

Sếp tôi lúc nào cũng “công khai, minh bạch” chuyện nhận con em vào cơ quan: Nếu cháu nó học hành tử tế, bằng cấp hồ sơ long lanh, tư cách đạo đức tốt, hết lòng ủng hộ lãnh đạo thì việc vào biên chế coi như trong tầm tay.

Không những thế, nếu phấn đấu tốt, sẽ sớm cho cháu đi bồi dưỡng lớp cảm tình, rồi lớp nguồn…., sớm đưa vào quy hoạch trưởng phó phòng ban và cao hơn nữa, sớm được cất nhắc theo đúng quy trình, bỏ phiếu thăm dò đủ cả.

Nhưng một thời gian sau, nhiều người “ngẫm” ra sếp nói cứ nói, còn làm là chuyện… của sếp! Ai cũng thấy không có quy định, quy chế nào lại không bị làm cho xiên xẹo, không bị “lách” cách này hay kiểu khác.

Thì đây cơ quan tôi, bố chưa về (và còn lâu mới về vì vừa sửa giảm tuổi một cách ngoạn mục), con vừa ra trường đã được “nhắm” chỗ, đàng hoàng theo diện thu hút nhân tài, hưởng chế độ thu hút của tỉnh nên vừa có “một cục” vài chục triệu lại nghiễm nhiên có ngay… biên chế!

Ôi chao là giỏi giang, sáng láng, người già khen, kẻ trẻ tấm tắc. Nhất cử, nhất động của “công chúa” đều được tô màu, phóng đại, bình bầu hàng tuần, hàng tháng đều có tên và ở ô số 1. Ngay cả thi cấp quốc gia vẫn cậy người “chạy” giúp được cái giải… khúc khích. Mỗi khi “công chúa” hát, cả cơ quan hùa vào khen hay, tiếng thơm vang lên trên, bay đi xa. Mở mày, mở mặt, chất lượng thu hút của tỉnh quả là đúng, thậm chí trên cả đúng…


Trong khi đó, con của một “lão bất trị” nọ, đừng có lấy lý do bằng đỏ mà kênh kiệu, mới nứt mắt đã chê “nhà quê” nhé. Ông thì ông cho vào “lò”, ông thử thách miền núi, đi huyện cho trắng mắt, cho rã họng ra, ông cho quân nhận xét hàng tuần chả ra gì, cho quân moi bằng hết những yếu kém như vào cơ quan không chào hỏi ai, tóc tai, quần áo bụi bặm, lãnh đạo nói sai câu nào là “vè” câu đó, 6 tháng hay cuối năm xếp loại ông “hè” cánh hẩu bỏ phiếu “không hoàn thành nhiệm vụ” thì ra rìa cho người khác vào nhé.

Thế là chẳng chóng thì chầy, con vị kia vào cơ quan “theo quy chế” và bây giờ ra cũng theo… quy chế. Không kêu được một tiếng nào!

Mặc dù vậy, sếp vẫn to nhỏ với anh em, rằng: mấy ảnh trên tỉnh “nhắm” con em vào phòng ngân sách sở tài chính, phòng đầu tư sở kế hoạch, “tráng men” dưới huyện mấy tháng rồi về… mới là “ăn” chứ lỵ. Nhưng có chỗ vội vàng quá, bất chấp quá, nhảy cóc quá, ai lại 6 tháng một chức? Coi răng được hỉ?

Có bữa bốc lên, sếp mơ màng: phải học cách làm của các ông tỷ phú đôla ấy. Mười ba tuổi mới cho dùng điện thoại. Nghỉ hè phải tìm việc, bán kem chẳng hạn. Tiền nhà trọ phải lo trả. Phải cho phép con cái thất bại và thành công theo cách riêng của chúng. Ngay cả tỷ phú Việt cũng cho con làm nhà hàng suốt kỳ hè đấy. Chỉ để lại một tý tẹo tài sản, chúng phải tự vươn lên, tự đảm bảo cuộc sống, cấm được ỷ lại nhé, nhé. Các vị cứ nhìn con tôi đấy?

***

Ông bạn tôi, con sắp tốt nghiệp thì bố lại chuyển công tác, mang cả nhà đi theo, đành “lỗi hẹn” với quy chế cơ quan cũ.

Có lần nói chuyện với một người trẻ thành đạt, ông xin một lời khuyên về chuyện con cái và nghề nghiệp, được trả lời rằng: Nếu cho cháu về cơ quan nào đó, bác thừa sức xin được và trước mắt thu nhập cũng đủ ăn tiêu. Nhưng cháu khuyên bác cho em… đi chơi, tức đi du lịch thế giới ấy ạ. Đi nhiều sẽ mở ra chân trời mới, nhiều bạn bè mới khắp năm châu. Lúc đó, nó sẽ tự tìm việc làm, như chính cháu đây, thu nhập sẽ khác, cũng như cháu đây.

Ông bạn sáng mắt lên và như chợt nhận ra điều gì đó?

Cũng vừa lúc tôi cầm điện thoại gọi nhờ ông bạn vừa ra trung ương cao rộng, quan hệ sâu có cách gì giúp cho đứa cháu đi miền núi hơn 10 năm nay muốn về xuôi sẵn sàng chịu tốn kém? Cứ về gần bố mẹ già là được. Với lại cháu xác định làm công ăn lương, hoàn toàn không mơ màng gì chức tước cao thấp, lớn bé đâu mà người khác phải lo lắng, cảnh giác.

Người ta lo lót cho con em, cháu chắt, họ hàng, bộ tộc chuyện to chuyện lớn; tôi chỉ mong ông giúp lo cái biên chế cho cháu. Vẫn rất khó a? Cả làng tốt nghiệp đại học đang phải “giấu” bằng, tạm đi làm công nhân kia kìa…


Người ta tận dụng mọi ưu đãi, cơ hội, các mối quan hệ để có thể chen một chân vào bộ máy nhà nước, vì sao?

Câu chuyện “cả họ làm quan” ở một huyện nọ cũng như sự thăng tiến ngoạn mục của một số hạt giống có “gen chính trị” cho thấy chúng ta đang có một lỗ hổng khá lớn trên con đường hướng tới một nhà nước pháp quyền thực sự.

Khi ai đó quyết định đi theo nghiệp chính trị hay trở thành công chức, đồng nghĩa với việc họ sẽ được giao trọng trách làm “chủ thể có trách nhiệm” trong việc đảm bảo cung cấp các dịch vụ công tốt nhất có thể cho công chúng. Trên lý tưởng họ được gọi là “đầy tớ của dân”.

Không giống như kinh doanh buôn bán hay các hoạt động kinh tế khác, việc cung cấp các dịch vụ công thường không mang lại lợi nhuận. Và tiêu chí để nói lên sự thành công của một ai đó trong lĩnh vực này đó chính là sự hài lòng và ghi nhận của người dân được hưởng các dịch vụ công tốt hơn.



Người ta tận dụng mọi ưu đãi, cơ hội, các mối quan hệ để có thể chen một chân vào bộ máy nhà nước. Ảnh: VietNamNet


Trên thế giới, mặc dù công chức được xem là ổn định trong nghề nghiệp, nhưng mức lương do nhà nước chi trả thì không quá cao so với mặt bằng xã hội. Ngoài một vài ưu đãi về nhà cửa hay phương tiện dành cho những vị trí cao cấp, về mặt luật pháp, họ không được phép hưởng thêm các khoản thu nhập khác khi đã được nhà nước trả lương.

Tuy lương công chức ở nước ta đã được cải thiện trong những năm gần đây, nhưng đem so sánh với các biến động về giá và thị trường lao động thực tế, có thể nói rằng nó tương đối thấp, thậm chí nếu chỉ trông chờ vào nguồn lương này thì nhiều gia đình công chức hiện nay khó mà đủ sống!

Biết là vậy, nhưng tại sao người người cố gắng thành công chức, nhà nhà chạy vạy vào biên chế? Người ta tận dụng mọi ưu đãi, cơ hội, các mối quan hệ để có thể chen một chân vào bộ máy nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bất chấp hoàn cảnh và phớt lờ các quy luật trong kinh tế như chi phí, cơ hội, lợi nhuận và hiệu suất, hiệu quả…

Với những cán bộ thuộc diện làng nhàng, không có đủ tiền và quyền lực để “bố trí, sắp xếp” cho con cái mình một vị trí ổn thỏa nào đó, họ chọn biện pháp xin về hưu non hòng giữ một suất biên chế cho con cái. Đây là một hiện tượng khá phổ biến hiện nay khiến nhiều cơ quan, đơn vị trên cả nước đa phần chỉ ưu tiên tuyển dụng con em trong ngành.

Với những người có khả năng thực thụ, con đường ngắn nhất chính là tham gia vào các đợt thi tuyển công chức, nơi họ luôn gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt và có thể nói là thiếu công bằng từ những đối tượng thuộc diện “hậu duệ” vốn có sự hiểu biết tốt hơn về hệ thống và các thủ tục hành chính do đã được trực tiếp trải nghiệm. Phần còn lại là những người sử dụng sự trợ giúp của đồng tiền với mức giá hàng trăm triệu đồng tùy từng vị trí công việc.


Việc nhiều người cố sống, cố chết để được làm người nhà nước với đồng lương ít ỏi và các chế độ đãi ngộ khiêm tốn có thể không cần phải bàn cãi nếu như động cơ thực sự của họ là muốn có điều kiện để cống hiến và phụng sự đất nước một cách trực tiếp nhất. Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn vào kết quả của quá trình “hậu duệ hóa đội ngũ công chức” hiện nay, có thể đưa ra một vài nhận định sau:

Thứ nhất, nó phản ánh và tái khẳng định một tính cách cố hữu của phần đa dân chúng Việt Nam, đó là ngại thay đổi, an phận và ngại ra biển lớn. Với đồng lương công chức ít ỏi và công việc không có nhiều biến chuyển, nhiều người vẫn có thể hài lòng với cuộc sống hiện tại mà không dám đương đầu với rủi ro để tự giúp mình thay đổi. Thứ hai, khi ai đó bỏ ra mấy trăm triệu đồng để có được một chức danh “quèn” trong hệ thống nhà nước, họ hiểu rất rõ rằng nếu cứ làm việc đúng chuyên môn và chức phận như hiện thời, thì có đến vài chục năm nữa số tiền mà họ đã chi ra cũng không thể hòa vốn được. Sao nghịch lý vậy? Vấn đề nằm ở chỗ người ta ước mong một ngày kia mình sẽ được trọng dụng và đề bạt, và việc thu hồi vốn và làm giàu chỉ là vấn đề thời gian.

Như vậy, trong tâm khảm nhiều người, tham nhũng được xem như là chuyện tất yếu và không có gì phải xấu hổ cả. Khi đó, mối họa này nghiêm trọng hơn tất thảy những gì dân tộc Việt đã trải qua.

Thứ ba, đối với các vị trí công chức có khả năng ra quyết định, họ phấn đấu không hẳn chỉ vì niềm đam mê quyền lực. Cái đích đến của mỗi người trong đó chính là để trở thành “chủ tài khoản” của những chương trình, dự án sử dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư công..

Để có thể hạn chế các thất thoát trong đầu tư công, cơ chế “kiểm soát & cân bằng” thường được sử dụng với mục đích không để quyền lực tập trung quá nhiều vào một cá nhân hay một nhóm người. Ở chiều nằm ngang đó chính là mô hình “tam quyền phân lập” mà Mỹ là nước đầu tiên áp dụng; còn ở chiều nằm dọc, đó là cơ chế phi tâp trung hóa.

Hậu duệ và các mối quan hệ phức tạp trong hệ thống quản lý nhà nước - đã được minh chứng từ bài học của các nước láng giềng như Philippines được xem là đã làm vô hiệu hóa vai trò và khiến cơ chế “kiểm soát và cân bằng” thất bại bởi một lý do rất đơn giản “nơi đâu tôi cũng có người nhà”

Lại thêm một lần nữa, chúng ta đang làm những chuyện rất ngược! Để có thể bẻ lái theo chiều thuận, có lẽ chúng ta cần phải thay đổi rất nhiều, từ tâm thức đến giá trị xã hội nền tảng, triết lý phát triển đến quản trị xã hội và cải cách thế chế.

Trần Văn Tuấn - Tuần Việt Nam
Lịch sử cho thấy sức mạnh vô địch của quần chúng. Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Câu nói ngày nào của Bác Hồ mãi mãi là kim chỉ nam cho các đại biểu Quốc hội từ khóa đầu cho tới nay.

Thấm thoát đã 70 năm trôi qua kể từ ngày 6 tháng 1 năm 1946, ngày Quốc hội khóa I của nước Việt Nam được bầu ra. Đây là khóa Quốc hội kéo dài lâu nhất trong lịch sử với 16 năm, từ tháng 1 năm 1946 đến tháng 5 năm 1960, do chiến tranh chống thực dân Pháp và đất nước bị chia cắt làm hai miền theo Hiệp định Genève 1954.

Quốc hội Việt Nam khóa I đã thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, tạo ra khối đại đoàn kết vững mạnh trên cả nước để chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến kiến quốc về sau. Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, thể hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh về nền lập hiến, tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân.

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I tổ chức vào ngày 2 tháng 3 năm 1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, với sự tham dự của gần 300 đại biểu.

Nhớ lại kỳ họp này, cụ Đồng Sỹ Nguyên, vốn là ĐBQH khóa I, cho biết, Quốc hội đầu tiên của nước ta có nhiều đảng phái.


Cụ Đồng Sỹ Nguyên - nguyên đại biểu quốc hội khóa I. Ảnh: Tác giả cung cấp


Ngoài các ĐBQH từ Việt Minh gồm đa số là những người cộng sản còn có đại biểu đến từ Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam và các đại biểu không đảng phái. Số đại biểu không qua bầu cử là 70 người gồm các đại biểu thuộc Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân Ðảng (Việt Quốc).

Việc có các đại biểu đặc cách không qua bầu cử này là theo thoả thuận trước cuộc bầu cử giữa Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc, thể hiện chủ trương của Việt Minh về hoà hợp dân tộc, tập trung lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp, bởi vì các đảng phái này không có quần chúng, không đại diện cho lợi ích của quần chúng, nên nếu có tham gia bầu cử cũng sẽ không thể trúng cử.

Là một trong số ít nhân chứng lịch sử còn sống, cụ Đồng Sỹ Nguyên kể, để phân biệt với các đảng phái khác, các ĐBQH cộng sản mang cà vạt màu đỏ, thể hiện ý chí chiến đấu. Vị trí ngồi trong hội trường Quốc hội cũng sắp xếp theo các đảng phái. Các đại biểu cộng sản luôn phát biểu, tranh luận quyết liệt với các quan điểm sai trái với đường lối cách mạng.


Cụ Nguyên nhắc lại lời của Bác Hồ đại ý là có đối lập thì những người cộng sản lại càng sắc sảo trong đấu tranh. Các đảng đối lập cơ bản là không có thực lực vì xa rời quần chúng, không có sự ủng hộ của quần chúng, nên phát biểu của họ tại nghị trường không có lập trường rõ ràng, mang tính chất quậy phá, a dua theo nước ngoài, nên thường xuyên bị cô lập. Họ đã từng phản đối quốc kỳ cờ đỏ sao vàng, quốc ca là bài Tiến quân ca. Sự hiện diện của các đảng phái đối lập chủ yếu là hình thức và do không có sự ủng hộ của quần chúng nên đã dần dẫn tới tan rã. Sau này, nhiều người trong số họ đã chuyển sang hàng ngũ những người cộng sản.

Ngày ấy Cách mạng mới thành công, nước ta còn rất nghèo, ngân khố trống rỗng, 2 triệu người ở miền Bắc vừa chết đói, nên trăm sự đều nhờ vào dân. Ngày đó ở nhà quê, có được bát gạo trong nhà đã là vô cùng ghê gớm rồi. ĐBQH từ các địa phương về Thủ đô họp Quốc hội đều ở nhờ nhà dân. Có một số ít ở tại các cơ sở của Việt Minh. Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình có 5 đại biểu, được bố trí vào ở trong nhà một gia đình tư sản yêu nước ở phố Hàng Đào. Các đại biểu ăn, nghỉ cùng gia đình. Sự hiện diện của các ĐBQH là niềm vinh dự lớn cho gia đình vì lúc đó khí thế cách mạng hừng hực, oai hùng lắm.

Cụ Nguyên kể, thời gian chuẩn bị bầu cử Quốc hội kéo dài cả tháng, rất khí thế. Làng xóm râm ran suốt ngày. Các vị phụ lão và các bà, các chị phụ nữ là hăng hái nhất. Các buổi mít-tinh vận động bầu cử cũng do người dân tự giác tổ chức, Việt Minh chỉ giới thiệu ứng cử viên. Đứng trước vài trăm người dân, chỉ cần một mỏm đất hơi nhô cao một chút là phát biểu được rồi. Tất cả đề nói trực tiếp, không văn bản, không micro.

Tất cả thông điệp đến với cử tri qua giọng nói to, khỏe, rõ ràng của ứng cử viên. Mỗi huyện ra mắt cử tri để vận động một lần. Người dân giác ngộ rất nhanh. Bà con biết rằng, người của Việt Minh là người của Cách mạng, của Bác Hồ, người đại diện cho nhân dân. Quảng Bình lúc đó có 5 phủ huyện và một thị xã. Ăn mặc thường ngày thế nào thì gặp dân cũng mặc như vậy. Mỗi tỉnh có 1, 2 chiếc xe ô-tô thu được của chánh sứ, tuần phủ hay án sát đem ra phục vụ ứng cử viên đi lại.

Ông Đồng Sĩ Nguyên khi đó là Chủ nhiệm Việt Minh, kiêm Chỉ huy trưởng bộ đội của tỉnh Quảng Bình cũng được dùng một chiến xe ô-tô của Phó sứ để làm nhiệm vụ của Cách mạng.

Theo ông Nguyên, Cách mạng tháng Tám cướp chính quyền từ tay phong kiến, đế quốc, phát-xít diễn ra long trời lở đất, như nước vỡ bờ, lan từ làng này qua làng khác. Người dân tự giác vùng đứng lên dành chính quyền. Quan lại, bảo an binh tự động nộp súng đầu hàng hết. Bộ máy cai trị tự động tan rã. Mỗi tỉnh lúc đó chỉ có vài chục Đảng viên làm nòng cốt lãnh đạo. Bản thân cụ Đồng Sỹ Nguyên lúc đó mới chỉ 22 tuổi, nhưng đã có 6 năm tuổi Đảng.

Lịch sử đã được những người con ưu tú của đất Việt bình dị viết nên như vậy đó. Lịch sử cũng cho thấy sức mạnh vô địch của quần chúng. Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Câu nói ngày nào của Bác Hồ mãi mãi là kim chỉ nam cho các đại biểu Quốc hội từ khóa đầu cho tới hiện nay.



Trần Văn - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách QH
Con người sinh ra có quyền hưởng tự do độc lập lời tuyên ngôn ấy vẫn mãi vang vảng trong suy tư của tôi. Chỉ có độc lập, tự do con người mới có thể hưởng hạnh phúc, niềm hạnh phúc tuyệt vời.

Như một con chim dù có bộ lông đẹp, tiếng hót tuyệt vời mà bị nhốt trong lồng thì cũng chỉ vang ra những tiếng hót ai oán.

Một nhà thơ, nhà văn, nhà báo, bị kìm hãm không thể viết ra những suy tư, những hiện thực xã hội, viết những lời gào thét của nhân dân thì cũng chỉ như những gã bồi bút, nhại đi nhại lại những lời thơ, câu văn trong sự đau đớn tới tột cùng bởi sự ray rứt lương tâm trước những thờ ơ của họ tới xã hội.


Một chính trị gia, luật gia, lên chính sách, không thể độc lập trước tư tưởng bảo vệ quyền lợi của một nhóm, đảng phải thì chẳng bao giờ có thể mang tới lợi ích tốt nhất từ những quyết định, chính sách, bộ luật được ban hành. 

Một nhà Khoa học dù được đào tạo ở môi trường tiên tiến bậc nhất thế giới, nếu không có sự độc lập, tự do nghiên cứu, sáng tạo thì cũng chỉ như ở nơi đâu, mấy chục "K" giáo sư tiến sĩ mà chả có được cái bằng sáng chế nào ra hồn.

Tóm lại, con người sinh ra có quyền hưởng tự do độc lập, anh là người làm chính sách thì tạo ra các chính sách đảm bảo những quyền đó, anh là an ninh thì phải mọi cách đảm bảo thực thi quyền đó cho người dân, anh là nhà báo, thì phải ủng hộ, lên tiếng bảo vệ giám sát việc thực thi điều đó.

Quyền lợi đi liền với trách nhiệm, khi xã hội đảm bảo những quyển đó của con người, thì người dân cũng cần có trách nhiệm với những gì mình hưởng. Anh không thể phát ngôn bừa bãi, không thể lợi dụng quyền để xâm phạm lợi ích người khác, tổ chức, nhà nước. Như vậy mới tạo nên một xã hội dân chủ, công bằng và tự do.

Ngày 2/9/2015
Trả lời phỏng vấn phóng viên trang An ninh tiền tệ và truyền thông, Chánh văn phòng UBND - người phát ngôn tỉnh Vĩnh Phúc Bùi Minh Hồng đã nói: "Ai bảo khó khăn? Mày có biết là ngân sách của Vĩnh Phúc là đứng thứ bao nhiêu cả nước không?"

Trong quá trình tác nghiệp, để có thông tin đa chiều phục vụ độc giả, phóng viên có nhiều hình thức để phỏng vấn những người liên quan: Gửi văn bản, hẹn gặp trực tiếp, gửi email, gọi điện thoại...

Theo quy chế phát ngôn, mỗi cơ quan đều phải có người để cung cấp thông tin chính thức cho báo chí - hay còn gọi là người phát ngôn. Người phát ngôn phải giữ thái độ đúng mực và yêu cầu tối thiểu là phải "ăn nói có văn hóa".

Trong trường hợp này, giữ vai trò là người phát ngôn cho chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc nhưng ông Bùi Minh Hồng đã không thể hiện được sự đúng mực cần thiết, thậm chí có những lời lẽ thiếu văn hóa, đưa ra những luận điểm so sánh kiểu "chợ búa", thiếu khoa học.

Mời độc giả đọc lại đoạn phỏng vấn trên trang An ninh tiền tệ và truyền thông để đánh giá xem: Ông Bùi Minh Hồng có xứng đáng với danh xưng "người phát ngôn của chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc"?


PV: Được biết tỉnh Vĩnh Phúc đang chuẩn bị xây dựng trung tâm thể thao, để cung cấp thêm thông tin đến bạn đọc, xin ông cho biết cụ thể hơn về dự án?

Chánh VP: Mục đích làm gì?

PV: Hiện nay, cả nước có nhiều công trình xây xong bỏ không, ít sử dụng rất lãng phí, liệu Vĩnh Phúc xây dựng trung tâm thể thao lớn như vậy có lãng phí hay không?

Chánh VP: Mỹ Đình có lãng phí không? Thế bây giờ đến hỏi Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch ấy, xem là cấp tỉnh có được làm bên ấy (Khu liên hiệp thể thao - PV) không? Bảo bộ văn hóa dừng tất các tỉnh lại.

Bây giờ tất cả các tỉnh, nếu mà trung tâm các tỉnh lãng phí là lãng phí tất cả nước. Tỉnh nào cũng phải làm, thế Tp.HCM có lãng phí không? Hà Nội có lãng phí không? Đấy sân Hàng Đẫy có lãng phí không? Sân Mỹ Đình có lãng phí không? Ai bảo thế gọi là lãng phí? Thế không muốn cho đất nước phát triển à?

PV: Thì hiện nay còn rất nhiều nơi còn khó khăn…

Chánh VP: Ai bảo khó khăn? Mày có biết là ngân sách của Vĩnh Phúc là đứng thứ bao nhiêu cả nước không?

Ông nào cũng có tư duy thế thì chết, tư duy thế thì bao giờ mới bằng được Singapore, người ta đi ô tô thì mình phải đi xe máy. Làm gì cũng có cả ban lãnh đạo, có cả bao nhiêu cái đầu, người ta quyết định việc gì có quốc kế dân sinh. Nào, xây sân bay Long Thành có lãng phí không? 19 tỷ đô la, nào có lãng phí không? Mà ngân sách cả nước thu về được bao nhiêu?

Thế bây giờ anh hỏi ngược trở lại, làm sân Mỹ Đình nó có lãng phí không? Nếu mà lãng phí thì bây giờ phải yêu cầu Bộ Văn hóa đừng ra cái tiêu chí là tỉnh phải có trung tâm văn hóa thể thao. Đây là chúng tôi làm theo chỉ đạo của Chính phủ và của Bộ Văn hóa, và hiện nay chúng tôi chưa có, chúng tôi đang làm công tác chuẩn bị, chả có gì cả, mà hoàn toàn Trung ương có nghị quyết.

PV: Vậy tỉnh phải xây dựng công trình này theo Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch?

Chánh VP: Tỉnh phải xây dựng chứ, anh hỏi em tỉnh Vĩnh Phúc là vùng gộp, bọn anh tự được vào vùng Thủ đô à? Có phải tự dưng được vào vùng Thủ đô đâu, đó là trung ương quy định vũng kinh tế trọng điểm bắc bộ các tỉnh phải phát triển, kinh tế phát triển văn hóa cũng phải phát triển, dịch vụ phải phát triển.

PV: Vậy công trình này được chính phủ phê duyệt?

Chánh VP: Quy hoạch là được chính phủ phê duyệt. Bọn anh còn làm nhiều cái việc còn lớn hơn thế. Anh khẳng định là chẳng có gì lãng phí cả, mỗi tỉnh phải có 1 trung tâm theo chỉ đạo của Bộ Văn hóa, về phát triển văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

PV: Vậy có phải Bộ VHTT&DL yêu cầu là mỗi tỉnh phải có một trung tâm ấy?

Chánh VP: Em xem trong quy hoạch tổng thể văn hóa của cả nước, trong đó có những cái gì, anh không có nói, anh chỉ nói là xem quy hoạch tổng thể đến năm 2020 tầm nhìn 2030 của cả nước.

PV: Tại sao VP lại lựa chọn Tam Đảo để xây dựng trung tâm thể thao đó?

Chánh VP: Anh nói với em thế này, TP. Vĩnh Yên nó bé không có đất, có Tam đảo cận kề giống như là Hoài Đức, Hà Tây cũ. Trung tâm mà đảm bảo được, giải quyết được tổng thể, hỗn hợp tất cả các môn thể thao thì phải có đất, làm sao xây mở rộng sân vận động ở Hàng Đẫy được, làm sao mở rộng sân Mỹ Đình được, mở rộng trường đại học phải ra khu hòa lạc hoặc sang các tỉnh khác. Huyện Tam đảo đất đấy toàn đất đồi trồng bạch đàn, trồng cây ăn quả không liên quan đến đất lúa.Định hướng Thủ đô nó chật chội quá mở lên Vĩnh Phúc mất huyện Mê Linh, nuốt chửng cả tỉnh Hà Tây. Lên đấy thì mới có điều kiện nên là phải lựa chọn, thành phố này (Vĩnh Yên) như là thủ đô của tỉnh, Tam Đảo thì nó liền kề luôn, bước ra chỉ mấy cây số chỗ đấy hoàn toàn có điều kiện, dễ giải phóng mặt bằng, đúng quy hoạch mà chính phủ đã phê duyệt quy hoạch chung rồi.

PV: Đến thời điểm này thì dự án tiến triển như thế nào?

Chánh VP: Cái đấy tỉnh phải đầu tư chứ, ngân sách nhà nước đầu tư chứ trung tâm văn hóa thể thao của tỉnh, của nhà nước, làm gì có tư nhân nào, không bao giờ người ta thèm đầu tư vào cái việc đó bây giờ người ta phải tìm dự án bất động sản, bệnh viện, trường học tư, làm các khu resort, khu du lịch. Sân vận động thì chả có ai quan tâm, nhà nước phải đầu tư.
Theo Báo Năng Lượng Mới