Articles by "thư viện sách miễn phí"
Hiển thị các bài đăng có nhãn thư viện sách miễn phí. Hiển thị tất cả bài đăng
no image
        Khi tham gia các hiệp định thương mại tự do nghĩa là chúng ta đang tìm cho mình một nhóm bạn để chơi một trò chơi kinh tế. Tất cả các nhà kinh tế học trên thế giới đều đồng tình ở quan điểm: Thương mại quốc tế là trò chơi có tổng lợi ích dương. Nghĩa là các bên sẽ có lợi từ hoạt động thương mại theo cách này hay cách khác nhưng hàm lợi ích thì luôn dương. Người ta đã chứng minh được điều này từ cuối thế kỷ 19. Phần gần cuối bài tôi có đề cập một số tài liệu mà bạn nên đọc để có cái nhìn thật sự đúng về thương mại tự do. Phong cách của dân kinh tế là giải thích vấn đề trên nguyên lý, nghiên cứu hoặc những số liệu thực tế và phải đi sâu vào bản chất của con số. Khác với cánh báo chí, chỉ nhìn bề ngoài của con số chứ không nhìn vào bối cảnh của con số nên nhìn nhận có phần sai lệch đi ý nghĩa ban đầu của các hiệp định kinh tế tự do. Hy vọng, bài viết sẽ truyền cảm hứng để các bạn đọc thêm nhiều tài liệu, có thêm thời gian để so sánh, đối chiếu và phản biện. Trường đại học và các viện nghiên cứu lập ra với 2 mục đích: đào tạo cho bạn tư duy phản biện và khả năng tự trang bị kiến thức. Chúng ta bắt đầu.
        Sắp tới là một loạt các hiệp định thương mại tự do. Về cơ bản các nguyên tắc cắt giảm thuế quan, xóa bỏ chính sách bảo hộ cũng tương tự nhau. Chỉ có điều TTP, AEC, FTA với Liên Minh châu Âu, Liên minh hải quan Kazaktan-Belarus,.... thì cam kết sâu rộng hơn trên các nhóm mặt hàng (cắt giảm thuế xuống 0% với 98 đến 99% các loại mặt hàng. Cũng giống với tinh thần của WTO nhưng WTO thì cam kết không rõ ràng lắm nên hàng rào cản trở thương mại tự do vẫn còn khá cao), hiệu quả và nhanh chóng hơn trong việc thống nhất quan điểm chứ để hơn 100 nước cùng thỏa thuận thì sẽ giống với vòng đàm phán Doha, đi vào bế tắc khoảng 15 năm nay rồi do các nước phát triển và kém phát triển không thể thống nhất với nhau định nghĩa của từ "phát triển". Một điều khác nhau nữa là việc các nước thống nhất về các quy định truy xuất nguồn gốc xuất xứ. Chẳng hạn, thịt lợn nhập khẩu vào EU phải kê các thông tin sau: giống nuôi ở đâu, thức ăn của công ty nào, chế độ ăn thế nào, biên bản kê khai lịch sử tiêm phòng dịch, loại thuốc tiêm, rồi giết mổ tại cơ sở nào, cơ quan nào giám định.... Nghĩa là toàn bộ lịch sử nuôi con heo đó từ lúc nó mới sinh đến lúc nó lên đĩa ở EU và Mỹ thì đều phải ghi chép lại đầy đủ. Bạn có thể cho rằng điều này thật điên rồ. Không sao cả. Các nước kém phát triển thường có suy nghĩ như vậy. Tuy nhiên, khi đạt đến một trình độ phát triển nào đó của tư duy thì bạn sẽ thấy điều này là hoàn toàn bình thường. Vì đây là cách các nước bảo vệ người tiêu dùng hiệu quả cũng như chống gian lận thương mại. Khi đã làm theo tiêu chuẩn quen rồi thì bạn sẽ thấy những điều phức tạp thế này trở nên bình thường đến tầm thường (chú ý: Tiêu chuẩn rất khác với QUY CHUẨN trong thương mại quốc tế. Các biện pháp kiểm dịch động thực vật TBT hay SPS là nằm trong Nhóm các biện pháp bảo hộ Phi Thuế Quan đang được dùng phổ biến trên thế giới). WTO có các điều khoản đòi hỏi các nước tham gia phải tuân thủ đó là tuyệt đối không được bảo hộ sản xuất trong nước dưới bất kỳ hình thức nào. Không cản trở sự tự do hóa thương mại. Nhưng cái hay của WTO là luôn có trường hợp ngoại lệ: các nước chỉ đặt đặt hạn ngạch hoặc cấm nhập khẩu với các mặt hàng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, chính trị, bảo vệ sức khỏe của con người và động vật hoặc để bảo đảm cán cân thanh toán (năm 2001 chúng ta đặt hạn ngạch với đường nhập khẩu với lý do bảo đảm cán cân thanh toán nhưng thực chất để bảo hộ ngành đường trong nước. Chính vì thế mà ngành này trở nên lạc hậu năm 2015 vì không có động lực cạnh tranh nên không có sự phát triển nào. Và còn vô số điều hài hước về WTO mà chúng ta nên biết. Biểu tượng cảm xúc pacmBiểu tượng cảm xúc pac

          Nhìn chung điểm mạnh của chúng thì chúng ta đã biết: Bảo hộ sản xuất hiệu quả hơn, là biện pháp trả đũa hợp pháp mà các tổ chức thương mại không cấm mà thậm chí cũng chưa có cam kết cắt giảm, cũng rất dễ áp dụng. Ví dụ việc đặt quy định điếu thuốc là nhập vào Việt Nam cho nó dài 1m đi. Biểu tượng cảm xúc pacman Biểu tượng cảm xúc pacman Rất dễ đặt quy định chứ không cần một bộ các nguyên tắc như với thuế. Mặt xấu của nó là: đội chi phí sản xuất kinh doanh lên cao, gây thiệt hại cho thương mại quốc tế, cản trở dòng chảy thương mại, gây bất lợi cho cả người tiêu dùng trong nước, nhà sản xuất và nhà nhập khẩu. Tất cả các biện pháp nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước đều kéo lùi tiến trình phát triển của nhân loại. Giả sử thế này: Việt Nam kiên quyết bảo hộ ngành công nghệ thông tin chẳng hạn và đặt thuế thật cao lên các sản phẩm máy tính. Không những thế để bảo hộ ngành sản xuất máy tính trong nước thật sự hiệu quả thì anh Việt Nam đặt thêm hạn ngạch 1000 chiếc cho máu, rồi biện pháp phi thuế quan nữa cho các nhà nhập khẩu hàng hóa hết đường luôn: máy tính cỡ màn hình không vượt quá 13 inch, không được dùng nhựa thông vì gây hại cho môi trường, không dùng nhựa cứng khó phân hủy (TBT), chất làm máy tính không gây hại cho các loài động thực vật ở cả nơi sản xuất và nước sở tại nhằm đảm bảo sức khỏe cho người (SPS), ốc trong máy tính phải được sản xuất tại Nam cực và cỡ ốc khác với cỡ ốc tiêu chuẩn của Mỹ và Châu Âu (Tiêu chuẩn: Biện pháp bảo hộ phi thuế quan). Áp dụng thêm quy chuẩn nhập khẩu nữa cho các chú nhập khẩu hết đỡ luôn..... Bảo hộ sản xuất máy tính trong nước hiệu quả không? (NTR và ERP). Câu trả lời là tỷ suất bảo hộ quá hiệu quả đến mức tôi gọi nó là bảo hộ hiệu quả tuyệt đối cũng được. À, không xét đến mấy anh em khỏe chân xách tay xong đi bộ qua rừng rú để buôn lậu máy tính về đâu nhé. Và khi bảo hộ thế này thì tôi muốn hỏi Việt Nam nghiên cứu và chế tạo đến đời nào dân Việt Nam mới được dùng máy tính? Các nước khác sẽ tiến hành các biện pháp trả đũa tương tự không chỉ với 1 mặt hàng mà với tất cả các mặt hàng. Điều này đồng nghĩa với việc "nhốt mình trong nhà tự sát bằng việc nhịn ăn" vậy. Không có thương mại thì làm sao mà học được những công nghệ sản xuất tiên tiến đó. Các bạn hiểu vấn đề chứ. Để cho dễ hiểu tôi sẽ tóm tắt vài ý chính về lợi ích của thương mại quốc tế đem lại cho toàn bộ các thành phần tham gia vào nó, Và đây là tổng hợp kiến thức nguồn từ: Giáo trình Chính sách thương mại quốc tế trường Ngoại thương, Hiểu kinh tế qua một bài học, tài liệu của Paul Krugman (Nobel kinh tế 2007), Đô la hay lá nho và một số tài liệu nước ngoài khác:
.
1. Thương mại quốc tế là trò chơi có tổng lợi ích dương. Nghĩa là cả hai bên cùng có lợi thì mới tiến hành trao đổi buôn bán với nhau. (nguồn: Chính sách thương mại quốc tế - Đại Học Ngoại Thương. Chương: Các học thuyết kinh tế. Phần đầu có giải thích điều này. Rất nhiều giáo trình kinh tế nước ngoài như Principles of Economics - Mankiw, Naked Economics,.... đều có giải thích bằng toán kinh tế cho bạn thấy rõ điều này.) Các bên tham gia trao đổi đều có lợi. Giả sử, không có sự cưỡng ép bằng vũ lực thì tôi chỉ kinh doanh với anh nếu tôi có lợi và ngược lại
.
2. Thương mại quốc tế là phương tiện để chuyển giao công nghệ hiệu quả. Ví dụ: Việt Nam không đủ công nghệ để làm ra máy tính, xe ô tô, nhưng nhờ có hoạt động thương mại quốc tế nên chúng ta có thể tiêu dùng những sản phẩm mà công nghệ trong nước chưa cho phép. Nếu chúng ta bảo hộ sản xuất hiệu quả đi, nghĩa là cấm nhập khẩu máy tính, xe ô tô, xe máy đi, và tự nghiên cứu lấy. Tỷ suất bảo hộ hiệu quả  ERP ~ 100%  (nó chưa bằng 100% vì còn có buôn lậu), thì cho tôi hỏi: Bao giwof chúng ta mới tự nghiên cứu được máy tính, đến bao giờ chúng ta mới tự nghiên cứu được ô tô, máy aby nếu cái gì chúng ta cũng tự làm hết. Cho nên cần phải nhập khẩu để học tập cách mà bọn nước ngoài nó sản xuất ra sản phẩm. Muốn sáng tạo giỏi thì trước hết bạn phải bắt chước những cái đã có cực giỏi đã. Cho nên, tùy từng thời kỳ mà quốc gia nên duy trì cán cân thương mại thặng dư và thâm hụt. Các nước thặng dư thương mại chưa chắc đã tốt, chỉ có điểm lợi là trong khủng hoảng những nước có thặng dư thương mại sẽ hồi phục nhanh hơn thôi.
.
3. Thương mại quốc tế làm tất cả chúng ta giàu lên. (Principles of economics - Mankiw có mô tả bằng những phép toán đơn giản và dễ hiểu về điều này). Cái này dễ hiểu thôi. Ví dụ Việt Nam sản xuất thép rẻ hơn Mỹ chẳng hạn. Khi thương mại diễn ra, người Mỹ thay vì mua thép Mỹ sẽ mua thép Việt Nam với giá rẻ hơn. Để giàu lên có 2 cách: Tăng thu nhập hoặc Giảm chi tiêu. Hàng hóa chảy theo chỗ trũng, nếu thương mại tự do và các nước không bảo hộ sản xuất bằng thuế, sàn giá, đạo luật bảo hộ loài cá heo (huyền thoại về bảo hộ Phi Thuế Quan do anh bạn Mỹ làm đội trưởng) thì thép Việt Nam sẽ xuất khẩu đi sang Mỹ nơi mà nó được bán với giá cao hơn. Việt Nam được lợi là bán được hàng. Người Mỹ tiết kiệm được 1 đống tiền. Công nghệ Mỹ đứng trước áp lực phải thay đổi để nghiên cứu ra loại thép bền và rẻ hơn thằng em Việt Nam làm. Đứng ở góc độ doanh nghiệp sản xuất thép ở Mỹ bạn sẽ làm gì? Quyền lợi bị xâm hại nên đương nhiên bạn sẽ đòi chính phủ bảo hộ cho sự yếu kém trong sản xuất và phân phối của bạn phải không? Với lý do, hàng Việt Nam sẽ làm công ty Mỹ phá sản và hàng nghìn người sẽ thất nghiệp. ĐIều này đúng. Hàng nghìn người Mỹ sẽ thất nghiệp. Nhưng chú ý: 300 triệu người Mỹ sẽ được hưởng lợi từ việc mua sản phẩm rẻ hơn. giá nhà đất sẽ hạ, thu nhập dôi ra thêm một khoản, thị trường chứng khoán mất đi công ty thép nhưng sẽ có thêm vài chục tỷ đô vào các lĩnh vực khác mà họ có lợi thế so sánh. Và sẽ tạo ra hàng triệu việc làm mới. Về nguyên lý là như vậy. Phương trình toán về tổng lợi ích khi có thương mại quốc tế cho thấy rằng: lợi ích thu được từ việc nhập khẩu sản phẩm rẻ hơn - Thiệt hại của nền kinh tế (mất đi thuế từ công ty thép) > 0. Nghĩa là tất cả chúng ta đều được lợi và giàu có hơn nhờ thương mại.

4. Thúc đẩy quá trình tái cơ cấu. Bạn vừa đọc về doanh nghiệp thép phía trên chứ. Để duy trì ngành thép này, đất nước sẽ tốn một loạt các khoản sau: chi phí cho sự kém hiệu quả, một lượng lao động, một diện tích đất ở vị trí giao thông thuận lợi, một lượng vốn trên thị trường chứng khoán.... Những thứ này gọi chung là nguồn lực. Nguồn lực của đất nước bị hao phí vào những sản phẩm kém hiệu quả và không bán được = phá hủy giá trị (theo đúng ngôn ngữ kinh tế). Và khi để thương mại tư do, ngành sản xuất này kém hiệu quả và nó sẽ phá sản. Những nguồn lực kia sẽ được phân phối lại cho nền kinh tế đến những ngành mà nền kinh tế sản xuất hiệu qảu hơn. Ví dụ: dệt may, công nghệ thông tin, xây dựng hay dầu khí chẳng hạn. Câu hỏi mà chúng ta quan tâm là mất bao lâu để phân phối lại nguồn lực trong xã hội. Câu trả lời là tôi không biết. Nó có thể mất 2 năm đến 10 năm tùy vào giáo dục cơ bản, yếu tố tâm lý con người.... Nếu doanh nghiệp đó ở Israel thì chỉ mất 6 tháng đến 1 năm thôi vì con người ở đây được giáo dục rất tốt, phong cách làm việc hiệu quả, có phương pháp luận, không coi trọng bằng cấp và tinh thần khởi nghiệp rất quật cường. Nên chỉ 1 năm sau là sẽ có công ty tỷ đô khác ra đời khi 1 công ty phá sản là chuyện thường. Và chắc chắn nó sẽ phân phối lại như vậy. Hoặc trong trường hợp đẹp nhất là ngành đó tái cơ cấu lại mạnh mẽ, xóa bỏ tư duy cũ lạc hậu trong sản xuất, đầu tư dây chuyền sản xuất mới, thuê lao động ở các nước rẻ hơn vào thay thế ở công việc giản đơn, thiết kế lại kênh phân phối, "bắt cóc" các đại lý, chiếm những vị trí và khách hàng chiến lược làm giá sản xuất kinh doanh rẻ đi.... Nói chung Thương Mại Quốc tế là nguồn gốc của sự phát triển. Tàn phá cái cũ để làm nền cho cái mới phát triển là nhiệm vụ chính của nó. Cho nên khi thấy báo chí nói về việc nông dân thiệt hại ra sao, thanh long đổ đầy đường.... ,mà tôi thấy thương hại cho mấy anh chị phóng viên. Có hiểu gì không vậy? Đi học lại môn Chính sách thương mại quốc tế của Thầy Kiên trường Ngoại Thương hộ cái. Tôi chỉ muốn khuyên thật là hãy nhìn theo đường dài. Công ty phá sản do không cạnh tranh nổi là tốt, người nông dân bị thua lỗ là tốt.... vì về lâu dài nó khuyến khích con người học tập và phát triển. Hãy xem chương trình Bản Tin tài chính kinh doanh ngày 18/09/2015 trên VTV (có video trên Youtube) để thấy rằng nhờ việc ý thức thị trường có cạnh tranh khốc liệt về giá cả cũng như chất lượng nên giờ nông dân bắt đầu trồng theo tiêu chuẩn VIET GAPS hay Global GAPS để nông sản bay sang Mỹ và EU rồi. Nó phải thế chứ. Khi làm được việc đó thì việc tiếp cận với phân khúc thị trường cao cấp là bình thường. Đất nước sẽ tiến lên. Cho nên muốn loại bỏ hàng Trung QUốc phải tăng cường nhập khẩu hàng có tiêu chuẩn cao của Trung Quốc thì mới ngăn được hàng giả là vậy. Nhập khẩu để mà học người ta cách làm sản phẩm, cách thiết kế bao bì, cách quản trị kênh phân phối chiến lược (kênh phân phối là mạch máu của nền kinh tế. Cho nên bọn Hàn QUốc nó muốn xây sàn đấu giá nông sản để nông sản Việt Nam bán được ở Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, EU .... là tôi thấy rất ưng rồi. Bởi giá trị thật là khi nó lên sàn đấu giá cơ chứ không phải do bạn định giá. Phải để sự cạnh tranh của thị trường định giá thì mới chuẩn.
.
5. Tự do thương mại là guồng quay và là hệ quả tất yếu không thể tránh khỏi trong sự phát triển của kinh tế toàn cầu và trong lịch sử phát triển của con người. Các nước sẽ chuyển một số quy trình sản xuất của họ ra nước ngoài vì 2 lý do cơ bản: Tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, và lý do nữa là tỷ lệ nội địa hóa - lại một chính sách bảo hộ khác. Cho nên, Airbus được lắp ráp từ linh kiện sản xuất ở hơn 100 quốc gia, Iphone của Apple được sản xuất tại Trung QUốc rồi mới phân phối ra toàn cầu, Toyota lắp ráp xe tại Việt Nam.... Họ hoàn toàn có thể làm được điều đó ở nước họ. Nhưng để tăng tỷ lệ nội địa hóa ở nước khác, giảm chi phí, phá bỏ các rào cản thương mại nên họ quyết định chuyển các khâu sản xuất ra nước ngoài (Paul Krugman dùng từ Offshore)
.
6. Tạo ra vòng đời quốc tế của sản phẩm. Sản phẩm đi từ nước phát minh , tiêu chuẩn hóa quy trình và cuối cùng nước phát minh là nước nhập khẩu hàng hóa đó.Quy luật này có chút vấn đề nhưng về cơ bản quy luật vòng đời quốc tế của sản phẩm có nhiều khía cạnh đúng đắn. Iphone là một ví dụ. Các nước kém phát triển có được công nghệ và giờ họ có thể sản xuất các sản phẩm tương tự. Thương mại quốc tế đã kéo cả đoàn tàu kinh tế thế giới đi lên là như vậy.
.
7. Chủ nghĩa trọng thương: Coi việc tích trữ vàng, bạc (thế kỉ XVII) là trung tâm của thương mại. Coi thương mại là trò chơi có tổng lợi ích =0. Nghĩa là một bên theiejt một bên có lợi. Coi thương mại là một trò chơi có tính chất lừa đảo lẫn nhau, chiếm đoạt lẫn nhau. Và chủ nghĩa này đã bị dập tắt không thương tiếc vì sự sai lầm đến ngớ ngẩn của nó. Học giả Adam Smith là tiền đạo với tác phẩm "Sự giàu có của quốc gia" - The Wealth Of Nation. Đề cập đến lợi thế tuyệt đối. Các quốc gia nên tập trung vào sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế. Đề cập đến việc chuyên môn hóa trong sản xuất và lao động. Ví dụ: người thợ dày không nên cố tự may áo mà chỉ nên đi làm giày và mua áo từ người làm áo. Tất cả sẽ được hưởng lợi từ việc này. Mặc dù có nhiều sai lầm nhưng tác phẩm này cũng rất đáng để đọc vì một số ý tưởng khá thú vị của nó.
. Sau đó là sự xuất trận của đội trưởng David Ricardo với tác phẩm về Lợi thế so sánh. Nó đem lại cho những kẻ cảm thấy mình vô dụng nhất thế giới này rằng anh vẫn còn hữu ích ở một lĩnh vực nào đó. Kể cả bạn có bất lợi ở tất cả các ngành và lĩnh vực nhưng nếu bạn sản xuất với hiệu suất cao hơn đối thủ thì bạn vẫn sẽ xuất khẩu hàng hóa đó.
Rồi đến lý thuyết H-O (Herchers-Olin): Thâm dụng các yếu tố sản xuất. Tạm hiểu là giảm chi phí ở yếu tố đầu vào)
Lý thuyết thương mại mới.
Rồi Mô hình Kim Cương của Micheal Porter xem quốc gia có lợi thế sản xuất mặt hàng nào và nên xuất khẩu mặt hàng nào,

Chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu RCA (tính dễ thôi. Hầu hết là cộng trừ và nhân chia). Khuyến cáo không được phép so sánh chỉ số RCA của 1 loại mặt hàng giữa 2 quốc gia rồi kết luận nước nào hơn. Chỉ số này là so sánh với mức trung bình của thế giới. và mẫu của chúng không hề giống nhau cũng như sự bất đối xứng về thông tin.
Chú ý số 2: Nhưng giả thuyết này là các hiện tượng xã hội và theo thời gian chúng sẽ dần không còn phù hợp nữa hoặc đúng trên một khía cạnh rất hẹp. Để xem nó có đúng không bạn có thể tấn công chúng theo 2 hướng: giả thuyết và mô hình. Tấn công vào giả thuyết là dễ nhất. Tôi thường xuyên làm như vậy do yếu tố thời gian không cho phép.
.Vân vân
.
8.Hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế.
.
9. Chính sách xuất khẩu của Việt Nam (giáo trình chính sách thương mại quốc tế + bộ ấn phẩm của VCCI).
.
10. Giới thiệu về tổ chức WTO cũng như các hiệp định FTA (Ấn phẩm của VCCI). Quy định của chúng (tôi có khá nhiều ấn phẩm. Nếu ngại tìm, hãy liên hệ với tôi)
.
11. Chính sách nhập khẩu: Thuế quan, hạn ngạch thuế quan, hàng rào phi thuế quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy định về kiểm dịch động thực vật TBT và SPS. Chú ý, khi nói về thiệt hại ròng cho nền kinh tế trong mô hình cân bằng từng phần do thuế quan và hạn ngạch gây ra, các sinh viên châu Âu chứng minh nó sai từ lâu rồi. Thiệt hại nằm ở biến số khác. Việc hiểu biết về thuế và hải quan có thể làm lợi rất lớn cho công ty bạn. Quy trình xuất nhập khẩu cũng khá thú vị. Trong chính sách thì hơi sơ sài, bạn nên đọc thêm về các điều khoản luật liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, các quy định liên quan, văn hóa làm việc của Hải Quan Việt Nam để tránh mất thời giờ với các thủ tục. Cái này rất thú ị và hấp dẫn, cũng có chút li kỳ nữa nhé. Khi nào rảnh tôi sẽ viết về các quy định, nghị quyết kiểu này. Đặc biệt: tìm hiểu về thuế và hạn ngạch rất rất có ích.
.
12.Tỷ suất bảo hộ hiệu quả ERP và bảo hộ danh nghĩa NTR: Cái này xem xem doanh nghiệp được lợi thế nào từ chính sách thuế quan của nhà nước. Tính cái này cũng dễ thôi.
.
13. Chính sách tỷ giá hối đoái: Quốc gia phá giá đồng nội tệ nhằm hỗ trợ xuất khẩu. Nhưng việc phá giá sẽ là vô nghĩa nếu: Tốc độ phá giá < lạm phát. Nghĩa là phải phá giá > lạm phát thì mới có ý nghĩa trong xuất nhập khẩu. Gần đây Việt Nam phá giá theo tôi là chẳng có ý nghĩa quái gì. Chú ý: Tôi nghiên cứu về tiền tệ. Lần trước có thanh niên phát biểu câu rất ngớ ngẩn về chính sách phá giá đồng NDT mà tôi chán ngán không thèm nói. Bắt chước hệt bọn báo chí luôn. Vô nghĩa và cũng không giải thích nổi cho kẻ không hiểu. Nguyên nhân: Mất thời gian vì trong thời gian đó tôi làm được nhiều việc khác có ích hơn. Và mục đích của con người là chứng minh mình xứng đáng được tôn trọng, tuyệt đối không được yêu cầu người khác phải tôn trọng. Hãy chứng minh mình xứng đáng được tôn trọng. Vì thế, một số bình luận, tôi sẽ không dành thời gian để trả lời đâu. Nhưng những câu hỏi phản biện thú vị thì được. Tôi rất thích các câu hỏi tấn công vào mô hình.
.
14. Tiêu CHuẩn và Quy Chuẩn: Khi bạn làm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, hãy chú ý các quy định về tiêu chuẩn hàng hóa, quy chuẩn của chúng cũng như các quy định liên quan khác.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.20. Khi khác viết tiếp 6 điều.
.,
...... Bạn đã bao giờ tự hỏi, tại sao SIngapore lại phát triển đến thế trong bối cảnh siêu cạnh tranh chưa? Bởi vì họ để thương mại tự do. Các rào cản thương mại và các cá nhân kêu gọi bảo hộ sản xuất trong nước được gọi chung là Liên Minh Duy TRì Nghèo Đói cho thế giới này. Công lao vô hạn. Đừng có kêu là nhập khẩu làm thất thoát dự trữ ngoại tệ của Việt Nam. Đó là tư tưởng của những kẻ theo chủ nghĩa trọng thương sớm bị loại bỏ trên tiến trình lịch sử. Ấy vậy mà ở Việt Nam và một số nước vẫn còn rất nhiều những kẻ như vậy. Chính vì thế mà dân không bao giờ mua được ô tô giá 160 triệu cả Biểu tượng cảm xúc pacman Biểu tượng cảm xúc pacman (giá nước ngoài. Xe tiêu chuẩn chất lượng cao và đẹp. Khi về Việt Nam giá tăng 300% đến 550%. Do chính  sách bảohộ nên một loạt các loại thuế đè lên). Một điều nữa, người tiêu dùng có thể mua những sản phẩm tốt hơn và rẻ hơn nhờ cơ thương mại. Cho nên nó mang lại lợi ích nhiều hơn thiệt hại.
no image

      Người ta nói về quản trị với vô số thuật ngữ, vô số bước và kỹ thuật (tham khảo: Cẩm nang kinh doanh hiệu quả - Harvard). Nhưng theo quan điểm của tôi thì tất cả đều tựu chung lại ở một điểm duy nhất đó là bóc lột sức lao động của nhân viên của bạn. Trình độ cuối cùng của nhà quản trị là nghĩ ra thủ đoạn để bóc lột trí tuệ và sức lực của nhân viên của bạn. Bởi khi lột được sức lao động của nhân viên thì tiền lương mà bạn trả cho nhân viên nó mới tạo ra giá trị thặng dư được. Những đất nước phát triển nhất là những đất nước lột được nhiều trí tuệ của nhân viên nhất và gần như lĩnh vực nào họ cũng đạt được những phát triển vượt trội, Có cần lấy ví dụ không nhỉ? Có lẽ chúng ta đã quá quen thuộc với những cái tên như Israel, Nhật bản, Hàn Quốc, Mỹ, hoặc vùng lãnh thổ như Hongkong của Trung Quốc,.... 
        Bên kinh tế học cũng thống nhất quan điểm về vốn con người là loại vốn đáng giá nhất mà doanh nghiệp sở hữu. Tài sản có thể mất nhưng mất đi nhân tài làm việc cho mình, mất đi sự trung thành của nhân viên là nhà quản trị đã mất tất cả. Nếu các công ty ở thung lũng Sillicon bị phá sản thì hàng trăm nghìn nhân viên sẽ ra sao? Chẳng sao cả, bởi họ sẽ nhanh chóng tìm cho mình công việc mới chỉ trong vài tháng. Nguyên nhân là những nhân viên ở đây đều có kiến thức tốt, trình độ cao. Đây được gọi là nguồn lực khan hiếm của các nguồn lực khan hiếm, là động lực phát triển của công ty và là sức sống của một quốc gia. Chính vì thế nếu Bill Gates phá sản với công ty Microsoft thì chắc chắn ông ta sẽ không bao giờ sống trong đói nghèo. Nguyên nhân cũng tương tự, ông ta sở hữu nguồn trí tuệ được coi là khan hiếm và đồng thời sở hữu những kỹ năng đặc biệt mà những người khác không có được. Chính vì thế học tập nó có ý nghĩa ở khía cạnh này. Nếu các bạn cho rằng điều này chỉ mang tính lý thuyết thì tôi cũng có thể chứng minh: Hãy nhìn vào các doanh nhân khởi nghiệp và thất bại mãi mới thành công (dù trong tâm lý học tỷ lệ các CEO có các triệu chứng về tâm thần không hề ít), Steve bị đuổi khỏi Apple, công ty mà chính ông ta sáng lập, chỉ một năm sau ông ta sáng lập Pixar và công ty sản xuất phim hoạt hình này thành công đến độ chỉ vài năm sau Apple phải mới Steve trở lại để cứu công ty. Bác Steve này cũng thuộc loại quân tử trả thù 10 năm chưa muộn nên đã "đuổi" toàn bộ hội đồng quản trị của Apple, bằng cách ép họ phải từ chức thì ông ta mới vực dậy công ty. Chính vì Steve sở hữu những nguồn lực mạnh mẽ mà khan hiếm về trí tuệ nên ông mới làm được điều đó ngay cả khi vụ bong bóng Dot.com huyền thoại nổ. Không phải ai cũng là thiên tài nhưng thiên tài có thể là bất cứ ai nếu có môi trường phù hợp với sở trường của họ. Ngày trước những năm 80, sinh viên Nhật Bản cố gắng thu thập thật nhiều loại bằng cấp nhưng chất lượng lại không cao, theo Michio Morishima thì đó là chủ nghĩa tinh hoa đến bệnh hoạn và đúng là thế hệ sinh viên đó sau khi ra trường đã kéo nền kinh tế của Nhật Bản đi chậm lại và bị tàn phá trong giảm phát dù cho có làm việc điên cuồng đi chăng nữa. Kinh tế học gọi đây là sự phá hủy giá trị.

        Với những bạn đang tìm hiểu về Chính Sách Thương Mại Quốc Tế thì bạn nên đọc cuốn sách này đầu tiên.
        Sau đây là một đoạn trích trong phần mở đầu của cuốn sách. Do mình lười viết review lắm nên gõ lại phần này và hy vọng nó sẽ cuốn hút các bạn
        "Acemoglu và Robinson đưa ra giả thuyết về các thể chế chính trị là cái quyết định chứ không phải địa lý, văn hóa hay sự thiếu hiểu biết. Lập luận đại thể như sau một quốc gia giàu nếu phần lớn công dân của nước đó tham gia vào các hoạt động kinh tế, tạo ra nhiều của cải một cách hiệu quả, luôn tìm cách mới để thực hiện các nhiệm vụ(cũ và mới) sao cho hiệu quả hơn.
        Nhưng cái gì khiến các tác nhân kinh tế (cá nhân, hộ gia đình, các công ty) làm như vậy? Đó là các khuyến khích (incentive). Không có khuyến khích, không ó động cơ người ta tích cực làm việc; các phản khuyến khích thậm chí còn gây ra tác hại. Nghiên cứu các khuyến khích là một trong những nội dung chính của kinh tế học (và khoa học xã hội nói chung khi khuyến khích được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là khuyến khích kinh tế).
        Song cái gì định hình các khuyến khích? Đó là các thể chế kinh tế. Các thể chế kinh tế là các quy tắc ảnh hưởng đến nền kinh tế hoạt động như thế nào và đến các khuyến khích thúc đẩy người dân ra sao. Các tác giả phân ra hai loại thể chế kinh tế: Thể chế kinh tế bao gồm (inclusive economic institution)  và các thể chế kinh tế khai thác (extractive economic institution).
        Các thể chế kinh tế bao gồm bảo đảm: các quyền tài sản an toàn; luật pháp và trật tự; các thị trường và sự ủng hộ của nhà nước đối với các thị trường (qua các dịch vụ công và các quy định); dễ tham gia hoạt động kinh tế; tôn trọng các hợp đồng; đa số nhân dân được tiếp cận đến giáo dcuj và đào tạo và các cơ hội.
        Ngược lại thì các thể chế kinh tế là khai thác: thiếu luật pháp và trật tự; các quyền tài sản không an toàn; các rào cản tham gia và các quy chế cản trở hoạt động của các thị trường và tạo ra sân chơi không bằng phẳng.
        Các thể chế chính trị bao gồm bảo đảm: điều kiện cho sự tham gia rộng rãi của các công dân - chủ nghĩa đa nguyên - đặt ra các ràng buộc và kiểm soát đối với các chính trị gia; nền pháp trị; nhà nước tập trung ở mức đủ để thực thi pháp luật và trật tự (nhưng không quá tập trung để biến thành chính thể chuyên chế).
        Ngược lại, các thể chế chính trị mang tính khai thác: tập trung quyền lực chính trị vào tay một số ít người; không có các ràng buộc lên các chính trị gia hay kiểm soát và cân bằng hay thiếu nền pháp trị.
        Các thể chế kinh tế bao gồm thúc đẩy tăng trưởng thông qua: khuyến khích đầu tư; tận dụng sức mạnh thị trường trong phân bố nguồn lực, sự tham gia của các hãng hiệu quả hơn, có khả năng tài trợ vốn cho kinh doanh khởi nghiệp; tạo điều kiện cho sự tham gia rộng rãi thông qua tạo ra cơ hội bình đẳng, để các công dân có cơ hội giáo dục và đào tạo; và quan trọng nhất khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới và chấp nhận sự phá hủy sáng tạo. Như thế, các thể chế bao gồm tạo ra các khuyến khích để các tác nhân kinh tế hoạt động hiệu quả và kết quả là tạo ra tăng trưởng bền vững; và như thế thường dẫn quốc gia đến giàu có.
         
      Một cuốn sách vô cùng thú vị! Các cuốn sách tiếp sau đó có thêm nhiều kiến giải khác nhưng về cơ bản kết quả cũng tương tự.

Link download: Here

     









no image
        Khi dân tài chính lên tiếng
Bài viết sưu tầm trên Internet- Không phải do mình viết. Nhưng đại loại là cũng hợp với phong cách của dân kinh tế nên mình muốn chia sẻ nó trên blog cá nhân này.
Em muốn 1 anh chồng lương 500 000$USD 1 năm
Đây là một lá thư của một cô gái đăng trên mạng, và được một CEO của một công ty trả lời
.......................................................................................................................
Những gì tôi viết sau đây đều thật lòng cả
Tôi 25 tuổi. Tôi rất đẹp, tôi có phong cách và khiếu thẩm mỹ cao, tôi muốn cưới một anh chàng có thu nhập từ 500,000 đô mỗi năm trở lên.Bạn có thể nói tôi là người tham lam nhưng với thu nhập mỗi năm 1 triệu đô thì chỉ được coi là tầng lớp trung bình ở New york
Yêu cầu của tôi không cao. Có ai trong forum này có thu nhập hàng năm là 500 nghìn đô không ? Trong số các bạn có ai lập gia đình chưa ? Tôi muốn hỏi : "tôi phải làm gì để lấy một ông chồng giàu như các bạn ?",
Trong số những anh chàng tôi hẹn hò ,, anh giàu nhất thu nhập chỉ là 250 nghìn đô mỗi năm, đối với tôi mức lương này là quá ít. Nếu như ai đó có ý định chuyển đến 1 căn hộ ở phía tây New york Garden thì mức lương này không đủ để chi tiêu.
Tôi có vài câu hỏi cho các bạn :
1)- Những anh chàng giàu có thường lui tới những địa điểm nào ? ( làm ơn liệt kê ra tên và địa chỉ các quán bar, nhà hàng, phòng tập thể dục ...)
2)- Tôi nên nhắm những độ tuổi nào
3)- Tại sao mấy bà vợ của các đại gia chỉ có nhan sắc trung bình ? tôi từng tiếp xúc với vài người trong số họ, họ chẳng xinh đẹp và chẳng thú vị gì cả, nhưng tại sao họ cưới được những ông chồng giàu có
4)- Các bạn dựa vào những tiêu chuẩn nào để chọn vợ, và những người nào chỉ có thể là bạn gái của các bạn thôi ? ( Mục tiêu của tôi bây giờ là lấy chồng )
Ms. Pretty
***
Sau đây là câu trả lời thẳng thắn của CEO thuộc tập đoàn J.P.Morgans :
Dear Ms.Pretty tôi đã đọc bài viết của bạn và cảm thấy rất thích thú. Tôi đoán có rất nhiều cô gái cũng có những câu hỏi như bạn. Xin cho phép tôi được phân tích tình huống của bạn với tư cách của một nhà đầu tư chuyên nghiệp
1- Trước hết, mức thu nhập của tôi là hơn 500 nghìn đô một năm, đáp ứng được yêu cầu của bạn, vì thế hy vọng mọi người không nghĩ rằng tôi đang phí thời gian ở đây.
2- Đứng dưới góc độ là một doanh nhân ,tôi nghĩ cưới bạn quả là một quyết định thiếu sáng suốt. Câu trả lời rất đơn giản, hãy để tôi giải thích cho bạn hiểu ,gạt qua những chi tiết linh tinh khác thì
3- rõ ràng bạn đang cố gắng trao đổi " nhan sắc" lấy " tiền ", có nghĩa là : A có nhan sắc và B có tiền để mua nó, công bằng và sòng phẳng
Tuy nhiên,vấn đề mấu chốt ở đây là nhan sắc có thể phai tàn theo năm tháng nhưng tiền đầu tư thì không như vậy.
Thực tế phũ phàng là thu nhập của tôi tăng dần qua năm tháng, còn bạn thì không thể ngày một đẹp hơn lên. Vì thế nếu xét dưới góc độ kinh tế mà nói ,tôi là một tài sản luôn luôn tạo ra giá trị gia tăng ,còn bạn chỉ là một tài sản hao mòn.
Hơn nữa không phải hao mòn bình thường mà là hao mòn theo cấp số nhân. Nếu đó là tài sản duy nhất mà bạn có, thì giá trị của nó sẽ bị giảm rất nhiều sau 10 năm nữa
Nếu so sánh với các phiên giao dịch trên phố Wall thì việc tôi hẹn hò với bạn cũng như một phiên giao dịch vậy .Nếu giao dịch bị giảm giá thì chúng tôi sẽ bán, chẳng ai ngốc giữ nó trong một thời gian dài - cũng như việc kết hôn vậy.
Có thể bạn nghĩ tôi thật dã man khi nói ra điều này, nhưng một tài sản mà tieu hao lớn như vậy, thì tốt nhất là nên bán nó đi hoặc cho thuê.
Bạn cần phải hiểu rằng bất kỳ một gã đàn ông nào có mức thu nhập 500,000 đô mỗi năm đều không phải là những gã ngu.
Chúng tôi chỉ hẹn hò với bạn nhưng chúng tôi sẽ không cưới bạn.
Tôi khuyên bạn hãy quên chuyện tìm cách lấy chồng giàu đi.
Thay vào đó hãy tự kiếm cho mình khoản thu nhập 500,000 đô mỗi năm để trở thành đại gia. Việc này có nhiều cơ hội thành công hơn so với việc tìm một thằng giàu mà ngu đấy .


Lời giới thiệu:
     Tinh hoa quản trị là một tập hợp các công trình nghiên cứu và bài viết của Peter Drucker- Cha đẻ của Quản trị học hiện đại và được xếp vào nhóm 50 nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất thế giới bên cạnh Michael Porter - cha đẻ của chiến lược cạnh tranh và Philip Kotler - cha đẻ của Marketing hiện đại.
     Tác giả viết cuốn sách này nhằm 2 mục đích. Một là hy vọng nó sẽ cung cấp cho độc giả một giới thiệu rõ ràng và tương đối đầy đủ về quản trị học và hai là, cuốn sách trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu của Drucker về quản trị, theo đó nó giúp trả lời câu hỏi mà tác giả và các nhà biên tập thường xuyên nhận được từ độc giả: "Tôi có thể bắt đầu đọc sách của Drucker từ đâu? Tác phẩm nào của ông là quan trọng?". Một người bạn Nhật Bản của tác giả có tên Atsuo Ueda đã đề ra ý tưởng làm cuốn sách này. Vốn dĩ chính ông cũng đã có một sự nghiệp quản trị xuất sắc tại Nhật Bản. Khi đến tuổi 60, ông chuyển sang một hướng khác, trở thành một nhà sáng lập và giám đốc của một trường đại học kỹ thuật mới tại Tokyo. Ông Ueda là dịch giả và biên tập viên cho nhiều tác phẩm của Peter Drucker trong suốt 30 năm. Vì vậy, ông rất quen thuộc với các tác phẩm này, trong một chừng mực nào đó, còn hơn chính tác giả nữa. lẽ tự nhiên là ông được mời tham dự và chủ trì rất nhiều hội thảo, hội nghị về các công trình của Peter ở Nhật. Và ông liên tục nhận được những câu hỏi đại loại như: "Tôi có thể đọc Drucker từ đâu?"
      Như đã nói ở phần trước, cuốn sách này cũng là tổng quan về các công trình nghiên cứu của Peter về quản trị học. Độc giả có thể muốn biết và nghiên cứu thêm về các đề tài trong cuốn sách mà họ quan tâm.

"Đây thực sự là một cuốn sách có giá trị với những người muốn tìm hiểu và đào sâu các khía cạnh của công tác quản trị".

Link Download: Tại Đây.
Link Dropbox: Tại đây
                                M&A Căn Bản - Mua Lại Và Sáp Nhập
                                                             
                                                           - MICHAEL E.S.FRANKEL -


Lời giới thiệu
            Bản chất của kinh doanh là một mục tiêu di động. Cách thức thị trường và doanh nghiệp hoạt động không ngừng cải biến, thay đổi và phát triển. Đối với những người nghiên cứu kinh doanh, đây là một nguồn dữ liệu mới, còn đối với những người thực hiện công việc kinh doanh, đây là suối nguồn cho dòng chảy không ngừng của những cơ hội và thử thách mới. Các đợt giao dịch, các vụ mua bán, những thỏa thuận hoặc hợp đồng cũng xuất hiện từ lâu đời như chính ngành thương mại vậy. Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, rất nhiều giao dịch liên quan đến việc kiểm soát chính các thực thể kinh doanh đã trở nên rất phổ biến.
            Sáp nhập, mua lại, bán một phần doanh nghiệp, đầu tư vốn cổ phần và đầu tư mạo hiểm, (gọi chung là các giao dịch M&A) là tất cả các hình thức tôi nhắc đến trong cuốn sách này với tên gọi các giao dịch Chiến lược. Các Giao Dịch Chiến lược có những nét độc đáo ở một số khía cạnh. Không giống như hợp đồng hay các thỏa thuận thương mại khác, Giao Dịch Chiến Lược là các sự kiện có ảnh hưởng sâu sắc đến các công ty và thường đánh dấu chấm hết cho một công ty với tư cách là một đơn vị kinh doanh độc lập, hoặc ít nhất đánh dấu một sự thay đổi có tầm ảnh hưởng to lớn đến ban quản lý, thành phần sở hữu một hoặc số phận của một công ty.
           Kể từ năm 1970, các Giao dịch Chiến lược (giao dịch M&A) đã phát triển từ những sự kiện hiếm có thành một thực tiễn kinh doanh phổ biến. Ngày nay, hầu hết các cộng ty lớn đều ngày càng tập trung nỗ lực hướng đến các vụ mua bán doanh nghiệp và hầu hết các công ty nhỏ cũng như các doanh nghiệp tư nhân đều xem xét để coi mua lại như một khả năng kinh doanh, đôi khi là khả năng kết thúc cuộc chơi. Giao dịch Chiến lược ở hình thức đầu tư mạo hiểm và đầu tư vốn cổ phần cá nhân cũng trở thành một nguồn cung cấp vốn lớn ngày càng gia tăng cho các hoạt động kinh doanh mới và đang phát triển. Vì Giao dịch Chiến lược trở thành một công cụ kinh doanh phổ biến và rộng khắp  nên nhiều tầng lớp chuyên viên kinh doanh mới xuất hiện để quản lý và điều hành những thương vụ này. Từ lâu, các nhà tư vấn chuyên nghiệp như chuyên viên ngân hàng đầu tư, luật sư và tư vấn viên đã trở thành các chuyên gia trong việc cơ cấu và điều hành các Giao dịch Chiến lược. Ngày nay, cộng đồng các nhà tư vấn đã trở nên lớn mạnh hơn bao giờ hết.

Cuốn sách sẽ là nguồn tri thức tuyệt vời cho các bạn để nhìn nhận đúng đắn hơn về các thương vụ M&A trên thị trường. Tránh hiện tượng phát ngôn mấy câu nhảm nhí và vô nghĩa trên báo chí mà gần đây mình đọc được.

Link Download: Tại Đây.

Link Dropbox: Tại đây.




  Giao Tiếp Thương Mại - Cẩm Nang Kinh Doanh Harvard

Lời giới thiệu:
           Giao tiếp là chức năng vô cùng thiết yếu với một tổ chức. Dù ở hình thức nói hay viết, giao tiếp đều là phương tiện truyền đạt để bày tỏ ý kiến với mọi người. Đây chính là cơ chế quản lý nhằm gây ảnh hưởng đối với nhân viên cũng như để hướng dẫn công việc. Đây cũng là phương tiện để nhân viên cung cấp thông tin và ý kiến phản hồi mà cấp quản lý cần đề ra quyết định đúng đắn. một tổ chức có cách giao tiếp rõ ràng, nhất quán và hiệu quả đối với khách hàng, nhân viên, cổ đông, người cho vay và thu hút các mối quan hệ hợp tác.
          Những gì đúng với giao tiếp ở mức độ tổ chức cũng đúng với giao tiếp ở mức độ cá nhân. Người giao tiếp tốt thường thành công hơn trong nghề nghiệp nếu các yếu tố ngang bằng nhau, Hãy dành một chút thời gian suy nghĩ về những tấm gương thành công trong sự nghiệp mà bạn ngưỡng mộ - những người đã vươn lên các vị trí lãnh đạo. Họ có thể là đồng nghiệp, trưởng phòng, giám đốc điều hành, giám đốc bộ phận, thành viên hội đồng quản trị hay phát ngôn viên. Ngoài những phẩm chất, tính cách riêng, chắc chắn họ phải là người có khả năng giao tiếp tốt.
          Cuốn sách Giao Tiếp Thương Mại là một cuốn sách thiết yếu cho những bạn muốn cải thiện khả năng giao tiếp của bản thân và đạt được thành công nhất định trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp.

Link Download: Tại đây.

Link Dropbox: Here
                          Cẩm Nang Kinh Doanh Harvard
             Quyền Lực Tầm Ảnh Hưởng Và Sức Thuyết Phục



         Đây là một cuốn sách về kỹ năng công sở rất hay. 
         Cuốn sách có đoạn: " Quyền lực, ảnh hưởng và thuyết phục luôn tồn tại trong xã hội. Một trong những dẫn chứng sinh động là trường hợp vua Louis XIV của nước Pháp - một vị vua vào thế kỷ 17 đã vận dụng quyền lực của mình một cách tuyệt vời. Vua Louis xem quyền lực của mình là tuyệt đối , nhưng ngài cũng sẵn lòng đón nhận sự ảnh hưởng của các cận thần,. Ngài trông cậy nhiều vào Jean Baptiste Colbert về cố vấn tài chính, và trông mong ở Marquis de Louvois về chiến lược quân sự. Dù vua Louis đã tuyên bố rõ ràng rằng ngàu sẽ không chia sẻ quyền hạn của mình cho cận thần nào hết nhưng ngài không thể trị ì mà không có họ. Ngài cũng không thể giấu họ điểm yếu của bản thân: đó là thói thích được tâng bốc không thể nào bỏ được. Điểm yếu này tọ điều kiện cho các bậc quần thần gây ảnh hưởng và sức thuyết phục. Ví dụ, Louvois đã lợi dụng tính thích xu nịnh của nhà vua để xui ngài tham gia những cuộc chiến tranh mà lẽ ra ngài không nên tham gia. Theo một người cùng thời với louis là công tước Saint Simon thì Louvois "đã thuyết phục đức vua rằng ngài  có thiên tài quân sự hơn bất cứ vị đại tướng nào của ngài:. Như vậy, thậm chí một người nắm quyền lực tuyệt đối cũng dễ chịu ảnh hưởng và sức thuyết phục bởi người khác, như bạn sẽ thấy trong cuốn sách này.
.
.
           Quyền lực là khả năng phân bổ nguồn lực, ra quyết định và bắt buộc tuân thủ quyết định. Đối với nhà quản lý, hiểu được cách nắm giữ quyền lực và sử dụng nó một cách thông minh là một kỹ năng thiết yếu dù hiếm khi được thừa nhận. John Kotter- giáo sư quản trị của Trường Kinh doanh Harvard - đã đặt vấn đề: "Hầu hết các công việc quản lý đều đòi hỏi một người có kỹ năng giành được và sử dụng quyền lực... Tôi nghi ngờ là nhiều nhà quản lý - đặc biệt là những người trẻ tuổi, học vấn cao - đã vận dụng quyền lực thấp hơn khả năng của họ vì họ không hiểu động cơ của quyền lực và vì họ đã không nuôi dưỡng cũng như phát triển bản năng cần thiết để giành được và sử dụng quyền lực hiệu quả".
           Ảnh hưởng là một khái niệm mở rộng của quyền lực. Đó là kỹ năng mà qua đó con người sử dụng quyền lực để thay đổi hành vi hay thái độ của người khác.
           Thuyết phục có mối liên quan chặt chẽ với ảnh hưởng nhưng cũng rất khác biệt. Thuyết phục không phải là sự ép buộc. Thay vào đó nó là một quy trình để một người thay đổi hay củng cố thái độ, quan điểm hoặc hành vi của người khác. Bất kỳ ai thành thạo trong nghệ thuật thuyết phục đều có lợi thế bán được ý tưởng hay sản phẩm của mình hoặc chỉ đơn giản là làm cho điều gì đó xảy ra. Thuyết phục là một kỹ năng thiết yếu trong cuộc sống, hữu ích cả ở gia đình lẫn nơi làm việc. 
            Cuốn sách "Quyền lực, tầm ảnh hưởng và sức thuyết phục" này sẽ giúp bạn hiểu được ba khái niệm quan trọng trên và đưa ra những lời khuyên thiết thực để bạn có thể áp dụng chúng trong công việc cũng như trong cuộc sống của mình.
    
Link download: Tại đây

Mình sẽ up thêm link dropbox vào ngày mai. Double click vào file pdf để mở nó, phía trên sẽ xuất hiện biểu tượng tải xuống. Đã nhờ 5 bạn check link nên hãy yên tâm là link không die. Chỉ là các bạn không quen dùng cách tải của driver thôi.
                             Chế Tạo Tại Nhật Bản
                                            -Morita- Đồng sáng lập hãng SONY

Nhắc đến hàng hóa Nhật Bản hay những sản phẩm mang thương hiệu "made in Japan", trong tâm thức người tiêu dùng trên thế giới đều ghi nhận chất lượng rất cao của chúng. Đóng góp cho việc mang lại tên tuổi, chất lượng và thương hiệu Nhật Bản đó, không thể không kể đến vai trò quan trọng của Akio Morita và tập đoàn Sony.
Là một trong những tập đoàn hùng mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực điện tử, Sony được thành lập năm 1946 chỉ với 20 kỹ sư tập trung trong một khu nhà bị tàn phá bởi chiến tranh, cho đến nay, Sony đã có tới gần 160.000 nhân viên và doanh số đạt 60 tỷ đô la Mỹ (số liệu năm 2005) với số sản phẩm đa dạng.
Cuộc đời của Morita được tóm tắt trong hơn 300 trang sách với những tư tưởng vô cùng thú vị của "gã khổng lồ" trong lĩnh vực công nghệ này. Chúng ta hãy làm phép so sánh về tư tưởng marketing của Morita và Steve Jobs của Apple để thấy được điểm chung rất thú vị giữa hai con người tài hoa này. Morita nói rằng đôi khi người tiêu dùng cần được hướng dẫn để biết được chính bản thân họ muốn gì. "Chúng tôi không tuân theo thị trường, chúng tôi tạo ra thị trường". Về sau này chúng ta có thể thấy tư tưởng này được Kotler - cha đẻ của marketing hiện đại diễn giải rất tuyệt vời qua việc định hình lại cấu trúc của thị trường có quá nhiều đối thủ cạnh tranh bị phân khúc mãnh liệt và lợi nhuận ở mức manh mún. Morita muốn đem chất lượng âm thanh cao cho một sản phẩm radio nhỏ gọn và sự ra đời của Walkman đã biến một công ty công nghệ nhỏ bé trở thành một trong những ông trùm công nghệ toàn cầu. Về sau này, tư tưởng của ông được Steve Jobs đem lên  sản phẩm công nghệ đình đám ipod và cũng đã đem lại danh tiếng cho hãng Apple kể từ đó. Có rất nhiều  điều trong tư tưởng của con người tài hoa này đáng để chúng ta học tập.
Thật tiếc là những nhà lãnh đạo thế hệ sau của Sony không có được tư tưởng như Morita.


Link download: GG driver
                           Dropbox

File tương đối lớn: khoảng 65MB. Mình cũng không biết tại sao bản scan này nặng vậy

                          Trí Tuệ Kinh Doanh Châu Á
                               Dianna Louise C. Dayao


Đây thực sự là một cuốn sách hay về tinh thần doanh nhân quật cường với những phẩm chất tuyệt vời mà nếu bạn chỉ hành động vì lòng tham thì thất bại là điều chắc chắn. Thực tế khác xa với những câu chuyện phù phiếm dễ dàng mà mấy cuốn sách dạy làm giàu vẫn hay giao giảng. Thực tế khốc liệt hơn nhiều. Bạn đã có những phẩm chất nào của doanh nhân. Không có kiến thức, nỗ lực và phẩm chất doanh nhân tuyệt vời thì giấc mơ thành công chỉ là một sự mơ mộng thật viển vông.
Trích đoạn:
"Kazuo Inamori, sáu mươi tám tuổi, thành lập Công ty Kyocera hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, bằng cách vay 10.000 đô la từ một người bạn. Triết lý của Inamori là "đừng bao giờ là nô lệ của tiền". Theo tuần báo Newsweek, công ty này ra đời vào năm 1959 chỉ vỏn vẹn với 28 nhân viên, dần dần đã phát triển  thành nhà sản xuất hàng đầu về các linh kiện bán dẫn và các sản phẩm truyền thông, điện tử với trên 37,000 nhân viên ở Nhật Bản và nước ngoài. Kyocera sở hữu 25% Công ty ĐI - công ty truyền thông số hai ở Nhật Bản.

Inamori, người được Thời báo Financial Times của London xếp vào danh sách hai mươi

doanh nhân được ngưỡng mộ nhất thế giới trong năm 1998, đã đặt niềm tin vững chắc vào

triết lý “làm điều đúng đắn - do what is right” trong các hoạt động kinh doanh của mình.

Tinh thần công dân của ông được phản ánh trong phương châm công ty Kyocera: Kei - Ten

Ai - Jin, có nghĩa là “tôn kính thượng đế và thương yêu con người”. Ông nghiền ngẫm về các

thành ngữ thể hiện tầm quan trọng của việc quan tâm tới người khác và nghĩ về những điều

tốt đẹp của xã hội. Tờ Financial Times đã viết “Những châm ngôn này đã định hình nền tảng

triết lý của động lực kinh doanh phi thường và sự tự tin. Ðó chính là nguồn gốc cho sự

thành công của Inamori.”

Link Download: Tại đây.
Link Dropbox : Here.






                          Nghịch Lý Toàn Cầu Hóa - Vàng và hai cô gái
nghịch lý toàn cầu hóa



Trong 15 năm qua, John Naisbitt đã nghiên cứu, phân tích và dự báo một cách nghiêm túc và hoàn chỉnh những xu thế đó. Ông cho rằng để có những hiểu biết cần thiết  về tương lai của thế giới và sắp xếp lại những sự kiện cần phải có trong tay một công cụ hiệu quả - một nghịch lý. Ông viết: " Có rất nhiều nghịch lý trong thế giới luôn thay đổi này. Tôi đồng ý với một điều mà tôi nghĩ rằng nó phù hợp hơn cả với những thay đổi ngày nay và là chủ đề chính của cuốn sách này: nền kinh tế thế giới càng lớn thì những phần tử nhỏ nhất trong nó sẽ càng mạnh hơn". Đây là tư tưởng xuyên suốt và sâu chuỗi tất cả các nội dung trong cuốn sách.

Link download: Tại đây




                        Cẩm Nang Kinh Doanh Harvard
                                 Quản Lý Thời Gian

Đây là một cuốn sách rất hay và rất hữu ích cho tất cả mọi người trong bộ Cẩm Nang Kinh Doanh Harvard. Quản lý thời quan là một kỹ năng quan trọng tạo nên sự khác biệt rõ rệt về năng suất lao động giữa bạn và những người xung quanh.
Việc sử dụng thời gian hiệu quả là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của người quản lý. Quyển “Quản lý Thời gian” – cuốn tiếp theo trong bộ “Cẩm nang Kinh doanh Harvard – Harvard Business Essentials” sẽ trình này những vấn đề quan trọng và thiết yếu về việc quản lý thời gian:

- Xác định và lập mức độ ưu tiên cho từng mục tiêu công việc

- Xây dựng lịch trình làm việc và loại bỏ “những kẻ đánh cắp” thời gian

- Giao phó công việc hiệu quả cho nhân viên

- Duy trì sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống…

Thực hiện tốt việc quản lý thời gian sẽ giúp bạn tăng tính hiệu quả và năng suất làm việc của bạn cũng như của cả tổ chức. Bạn sẽ biết cách cân bằng những chiến lược, mục tiêu của công việc với những ưu tiên, mong muốn, sở thích của cá nhân để có một cuộc sống hài hòa và trọn vẹn.

Đây là cuốn sách không chỉ dành cho những người quản lý mà còn cần thiết cho tất cả mọi người đang làm kinh doanh cũng như với những sinh viên chuyên ngành hay bất cứ ai quan tâm đến đề tài này.

Link Download: Tại đây

        Cẩm Nang Kinh Doanh Harvard - Quản Lý Khủng Hoảng                                                 (free pdf)
Khủng hoảng làm đau đầu nhiều tổ chức có nguy cơ rủi ro cao. Mọi tổ chức đều chịu khủng hoảng, cho dù họ có nhận ra điều đó hay không. Hãy xem ví dụ sau:
- Các nhà ban hành định chế của Chính phủ Hoa Kỳ phát hiện ra rằng một số nhân viên của một công ty quản  lý quỹ đầu tư tương hỗ hàng đầu đang dính vào những hoạt động thương mại phi pháp làm giảm tiền lãi của các cổ đông. Chỉ trong vòng một vài tuần phát hiện ra điều này, các cá nhân đầu tư và quỹ lương hưu đã bị rút hàng tỷ đô la từ công ty này, đe dọa sự tồn tại tương lai của nó.
- Một tàu chở dầu bị mắc cạn, làm đổ hơn 250 ngàn thùng dầu ra vùng cửa sông Alaska. Bao nhiêu chi phí phải đổ vào việc làm sạch và nộp phạt cũng như các vụ kiện tụng và thư từ của các cổ đông và khách hàng bị thiệt hại.
- Một nhà quản lý danh mục vốn đầu tư đang cố tạo ra lợi nhuận cao hơn cho các cổ đông đã đầu tư vốn thông qua việc sử dụng phát sinh đầu cơ tích trữ; nhưng không thông báo cho bất kỳ ai. Khi vụ việc sụp đổ, các nhà đầu tư - kể cả những nhà từ thiện và các tổ chức nghệ thuật bị mất 25% số tiền của họ. Còn công ty mất đi sự tín nhiệm và niềm tin của công chúng mà họ đã xây dựng hàng thập niên qua.
- Hàng triệu người Mỹ xem một bộ phim tài liệu trên truyền hình trong đó có cảnh một chiếc xe đã bùng cháy trong một vụ đâm xe. Nhiều người phẫn nộ và thề không bao giờ mua xe từ hãng xe ô tô đó. Một tháng sau, hãng xe phát hiện được bằng chứng rằng nhà sản xuất phim tư liệu đã dàn dựng vụ đâm xe đó và cố tình để xảy ra vụ cháy. Nhưng sự thật này tác động rất ít đến quan điểm của công chúng, và điều này đã dẫn đến thiệt hại về danh tiếng và doanh thu của hãng xe.

      Một khủng hoảng lớn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ tổ chức và trong một số trường hợp, như vụ Enron và ngân hàng Barings. Khi lâm vào khủng hoảng, các nhà quản lý cần phải hành động nhanh chóng để tổ chức lại nguồn lực, kiềm chế khủng hoảng và cuối cùng giải quyết khủng hoảng với ít thiệt hại nhất. Theo nghĩa này, quản lý khủng hoảng là một phần của một hệ thống tổng thể về quản lý rủi ro của tổ chức, bao gồm cả sự đa dạng hóa và bảo hiểm. Chắc chắn ai cũng có thể nhớ lại một tình huống khủng hoảng có thể xảy ra cho công ty của mình, lại càng ít người được đào tạo về cách thức quản lý khủng hoảng.Những thiếu sót này không gây ngạc nhiên vì quản lý khủng hoảng là một lĩnh vực đào tạo tương đối mới, chỉ mới phát triển trong 3 thập niên qua. Cuốn sách Quản Lý Khủng Hoảng này nhằm khắc phục tình trạng đó bằng cách giải thích những vấn đề thiết yếu của việc quản lý khủng hoảng.

Link download: Tại đây.
Nếu có điều kiện, bạn nên mua sách giấy để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản!



                                                       Giải Pháp Keynes
                                         Con đường dẫn đến sự thịnh vượng toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại đã dẫn đến việc mất lòng tin vào chính sách kinh tế theo hình thái thị trường tự do. Trong "Giải pháp Keynes", tác giả paul Davidson đã thể hiện hiểu biết sâu sắc về việc chúng ta đã sa vào khủng hoảng như thế nào - và quan trọng hơn là chúng ta sẽ sử dụng triết lý kinh tế của keynes như thế nào để thoát khỏi mớ bòng bong này. John Maynard keynes chuyên tâm vào việc làm cho nền kinh tế thị trường đạt hiệu quả, nhưng hệ thống hiện tại của chúng ta là một thất bại ảm đạm. keynes ủng hộ vai trò của can thiệp của nhà nước kết hợp với sự chủ động của khu vực tư nhân để giảm bớt những ảnh hưởng tiêu cực của suy thoái, khủng hoảng và tăng trưởng nóng. Chính sách kinh tế của ông đã giúp thế giới thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng và là một tác nhân quan trọng trong tư duy dẫn đến chính sách kinh tế xã hội mới của Franklin D.Roosevelt.
Trong cuốn sách này, chuyên gia về Keynes, Davidson đã đưa ra những đề xuất và kế hoạch chi tiết cho chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, luật và quy định cho thị trường tài chính và tiền lương - tất cả đều nhằm đảo ngược tác động của những chính sách trong quá khứ của chúng ta. Ảnh hưởng cải cách của Keynes hiện diện ở mọi nơi: gói kích thích kinh tế của Barack obama là một ví dụ - và quyển sách này giải thích những quan điểm nền tảng của kinh tế học Keynes cũng như những giải pháp thực tế cho tình hình hiện nay.

Link download: Tại đây

                                                 Chiến Lược Cạnh Tranh
                                                              - Michael Porter-

ĐƯA TƯ DUY KINH TẾ GẮN LIỀN THỰC TIỄN
Là 1 trong 3 tác phẩm kinh điển của Michael Porter - “cha đẻ” chiến lược cạnh tranh (father of competitive strategy), nhà tư tưởng chiến lược bậc thầy của thời đại và là một trong những “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới (theo bình chọn chọn của 50 Thinkers)
Tác phẩm tiên phong “Chiến lược cạnh tranh” của Michael E. Porter - đã thay đổi cả lý thuyết, thực hành và giảng dạy chiến lược kinh doanh trên toàn thế giới. Hấp dẫn trong sự đơn giản – giống như mọi phát minh lớn - phân tích của Porter về các ngành công nghiệp đã thâu tóm toàn bộ sự phức tạp của cạnh tranh ngành vào năm yếu tố nền tảng. Porter đã giới thiệu một trong những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất cho tới nay: ba chiến lược cạnh tranh phổ quát – chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm -, những chiến lược đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc. Ông chỉ ra phương pháp định nghĩa lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối, do đó liên hệ trực tiếp đến lợi nhuận và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo ra và phân chia lợi nhuận. Trong gần hai thập kỉ từ khi xuất bản, khung phân tích dự báo hành vi của đối thủ cạnh tranh của Porter đã thay đổi cách thức mà các doanh nghiệp nghiên cứu đối thủ và kích thích sự ra đời của một nhánh phân tích mới: đánh giá đối thủ cạnh tranh.
Sách được viết cho những người hoạt động thực tiễn cần phát triển chiến lược cho những doanh nghiệp cụ thể và cho những học giả muốn hiểu về cạnh tranh tốt hơn. Nó cũng hướng đến những độc giả khác muốn hiểu về ngành và các đối thủ cạnh tranh của họ. Phân tích cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với việc hoạch định chiến lược kinh doanh mà cả đối với tài chính doanh nghiệp, marketing, phân tích chứng khoán và nhiều lĩnh vực kinh doanh khác.
Hơn một triệu nhà quản lý ở cả các tập đoàn lớn và các công ty nhỏ, các nhà phân tích đầu tư, nhà tư vấn, sinh viên và các học giả khắp nơi trên thế giới đã cụ thể hóa những ý tưởng của Porter và áp dụng chúng vào đánh giá các ngành, tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh và lựa chọn những vị trí cạnh tranh.
Cuốn sách “Chiến lược cạnh tranh” đã lấp đầy khoảng trống trong tư duy quản lý. Nó cung cấp một nền tảng lâu dài và xuất phát điểm để từ đó tiến hành các nghiên cứu sau này. Bằng cách đưa vào một cấu trúc chặt chẽ để trả lời câu hỏi làm thế nào các doanh nghiệp có thể đạt được lợi nhuận vượt trội, những khung phân tích phong phú và hiểu biết sâu sắc của Porter hình thành một lý thuyết tinh vi về cạnh tranh chưa hề bị vượt qua trong vòng một phần tư thế kỉ qua
Tạp chí Business Strategy (chiến lược kinh doanh) đã bình luận rằng: “Bất cứ nhà quản lý nào học và sử dụng những nội dung trong cuốn sách này đều có khả năng thiết kế những chiến lược thành công”. Còn Philip Kotler, “cha đẻ” của marketing hiện đại, nhận xét: “Những cuốn sách của Porter về chiến lược cạnh tranh là những công trình kinh điển trong lĩnh vực này”.
Link Download: Tại đây.
"Nếu có điều kiện các bạn hãy mua sách giấy để úng hộ tác giả và nhà xuất bản"
Nếu có đề xuất sách vui lòng cmt bên dưới.
                                                 Cẩm Nang Kinh Doanh Hiệu Quả
                                                 Quản Lý Các Dự Án Lớn Và Nhỏ


    Tiếp tục với series sách trong bộ Cẩm Nang Kinh Doanh Harvard, Leo xin gửi đến các bạn cuốn sách Quản Lý Các Dự Án Lớn Và Nhỏ. Đây là một cuốn sách tuyệt vời cho những ai đam mê kinh doanh. Cuốn sách sẽ cung cấp những tri thức vô cùng hữu ích trong việc xây dựng kế hoạch hành động, quy trình để quản lý một dự án, cơ cấu tổ chức để hành động, phân chia công việc, quản lý rủi ro phát sinh trước và trong quá trình thực hiện dự án... Một dự án sẽ rất dễ đổ bể nếu bạn không hành động theo một quy trình chắc chắn. Chỉ cần một mắt xích yếu, dù là yếu tố nhỏ nhất trong dự án, nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng thì khả năng cao là dự án vẫn sẽ đổ bể. Cuốn sách không giúp bạn trở thành một chuyên gia ngay nhưng những kiến thức cơ bản của nó có thể đem ra áp dụng ở mọi lĩnh vực và ở tất cả các cấp độ từ đơn giản đến phức tạp hoặc siêu phức tạp. Bằng việc áp dụng vào thực tiễn, cuốn sách Cẩm nang kinh doanh Harvard - Quản lý các dự án lớn và nhỏ" có thể giúp bạn thực hiện công việc nhanh chóng, tránh những sai lầm không đáng có và đúc rút ra được những kinh nghiệm quý báu.

       Trong một môi trường kinh doanh siêu cạnh tranh như hiện nay, áp lực công việc cùng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh khiến cho mọi hoạt động đều cần nằm trong dự án . Sự thay đổi về công nghệ, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng đã làm giảm bớt tính chất thường nhật của công việc. Công việc đã trở nên phức tạp hơn và các phòng ban của tổ chức vốn được bố trí để làm những việc thường ngày sẽ khó tiếp cận với công việc mới hơn. Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh cũng buộc các tổ chức phải triển khai công việc nhanh hơn.

       Công việc của nhà quản trị là biến những khái niệm phức tạp của công tác quản trị thành kế hoạch hành động cụ thể và nhất quán nhằm phối hợp sức mạnh của tất cả các nhân viên và những người có liên quan đến dự án.

        Công tác quản lý dự án và người quản lý dự án có thể giúp một dự án thành công tốt đẹp. Việc quản lý dự án một cách hiệu quả có thể đem lại nhiều lợi ích đáng kể cho cá nhân hay tổ chức như:

         Hoàn thành dự án đúng hạn và trong phạm vi ngân sách cho phép.

         Phát triển tổ chức trong thời gian ngắn và giảm thiểu rủi ro.

         Tránh lãng phí tiền bạc và thời gian làm việc của nhân viên từ đó tăng hiệu quả dự án.

        Không lấy gì làm ngạc nhiên, nhà quản trị thành công nhất đang ngày càng thích áp dụng các giải pháp quản lý dự án được đề cập trong cuốn sách Quản Lý Các Dự Án Lớn Và Nhỏ này cho các công trình xây dựng lớn, trong việc phát triển máy bay quân đội và dân dụng, xây dựng website thương mại điện tử, hoạt hình, và nhiều lĩnh vực khác - thậm chí cả những chiến dịch mang tính chất chính trị...

         Nhờ sự phổ biến các phương pháp quản lý dự án, các tổ chức ngày càng tỏ ra hiệu quả hơn trong việc lập kế hoạch và xây dựng cơ cấu. Những phương pháp này cũng trở thành trọng tâm của các khóa học nâng cao, các dịch vụ tư vấn và các chương trình đào tạo về quản lý...

       Tất cả các khía cạnh khác nhau liên quan đến dự án cũng như việc quản lý dự án sẽ được đề cập chi tiết trong nội dung cuốn sách “Quản lý dự án lớn và nhỏ” này. Cũng như những cuốn sách khác trong bộ sách “Cẩm nang kinh doanh Harvard”, cuốn sách này sẽ không giúp bạn trở thành một chuyên gia xuất sắc về quản lý dự án. Nhưng phần nội dung chi tiết, hướng dẫn thiết thực kèm theo những minh họa điển hình, cuốn sách sẽ giúp những ai đang làm công tác quản lý biết cách thực hiện thành công một dự án, dù dự án ở bất kỳ quy mô mà mức độ phức tạp nào. 

Link down sách: Tại đây.
"Hãy mua sách giấy để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản nếu các bạn có điều kiện"
                                            Cẩm Nang Kinh Doanh Harvard 
                             Các Kỹ Năng Tiếp Thị Hiệu Quả
Giới Thiệu:
Các kỹ năng tiếp thị hiệu quả” là một cuốn sách nằm trong bộ sách Cẩm nang kinh doanh Harvard- Harvard Business Essentials, hứa hẹn sẽ mang đến cho bạn những hiểu biết hữu ích và thiết thực dù cho bạn là một nhà quản lý của một công ty, một nhân viên kinh doanh hay chỉ là một người tiêu dùng bình thường! 


Ảnh minh họa. Nguồn: firstnews.com.vn (TG)
Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, theo ước tính của các chuyên gia nghiên cứu tại các thị trường tự do, một người tiêu dùng tiếp xúc mỗi ngày khoảng vài nghìn thông điệp quảng cáo. Sự bùng nổ các thông điệp này đã vượt quá khả năng tiếp nhận của người tiêu dùng. Bất cứ nơi nào, thời điểm nào khách hàng cũng có thể nhìn thấy các thông điệp quảng cáo, nhưng chỉ một tỷ lệ nhỏ 5% được chú ý (do sự phong phú đến mức hỗn loạn của các phương tiện truyền thông hiện nay đã khiến mọi người loại bỏ hầu hết các thông điệp thương mại). Do vậy, rào cản đầu tiên mà các nhà làm marketing cần phải vượt qua là làm sao thu hút được sự chú ý của khách hàng bằng những chiến lược truyền thông hết sức độc đáo.

Nếu trước đây, nhà sản xuất chỉ việc sản xuất ra sản phẩm và bán sản phẩm đó cho khách hàng thì ngày nay, thị trường người bán đó đã nhường chỗ cho thị trường người mua. Hàng ngàn thậm chí hàng triệu doanh nghiệp lớn nhỏ ra đời, giữa một rừng doanh nghiệp, một rừng sản phẩm có công dụng tương tự nhau, người tiêu dùng phải chọn ra cho mình một sản phẩm giá cả hợp lý, chất lượng và an toàn. Điều đó cho chúng ta thấy rõ vai trò của marketing đối với nền kinh tế thị trường như hiện nay.

Cuốn sách “Các kỹ năng tiếp thị hiệu quả” đề cập đến mọi khía cạnh của lĩnh vực marketing, từ những khái niệm cơ bản đến những vấn đề marketing chuyên sâu như: nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu, truyền thông marketing tích hợp, thương mại điện tử,vv... Cuốn sách sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức và kỹ năng cần thiết để bắt đầu xây dựng một chiến lược marketing thật hiệu quả cũng như cách thức đánh giá nỗ lực marketing của bạn dựa vào doanh thu bán hàng, mức độ nhận thức thương hiệu hay sự thỏa mãn của khách hàng,…

Link download: Tại Đây