Articles by "thương mại quốc tế"
Hiển thị các bài đăng có nhãn thương mại quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thay vì nói về các nguyên lý mang tầm vĩ mô liên quan đến tài chính công, ngân hàng, tiền tệ, hay thị trường tài chính, hôm nay, tôi muốn tiếp tục viết series về Thương Mại Quốc Tế. Bài viết này sẽ không mang nặng tính học thuật như nhiều bài viết trước - muốn hiểu bạn cần có kiến thức khá tốt về kinh tế học cơ bản, mà bạn chỉ cần có một chút kiến thức về Luật Thương Mại Quốc Tế - bởi tôi sẽ đề cập đến vấn đề pháp lý khi ngân hàng xử lý L/C của bạn để chấp nhận thanh toán L/C cho bạn hay không? Một chút hiểu biết về các phương thức giao nhận trong Ngoại Thương nữa và chúng ta có thể bắt đầu cuộc chơi.
Không phải quá tự hào về trường đại học mà tôi đang theo học nhưng tôi đồng ý với quan điểm của một số giảng viên rằng chỉ có ở Ngoại Thương- FTU, bạn mới được giảng kỹ về 2 thứ: Phương Thức Thanh Toán Quốc Tế và Vận Đơn Đường Biển- B/L (Bill of lading- Tôi sẽ viết về vận đơn trong bài viết về Vận tải và giao nhận trong ngoại thương vào một ngày đẹp trời nào đó) (vận tải bằng đường biển là phương thức chủ yếu trong mua bán hàng hóa quốc tế bên cạnh đường bộ, đường sắt và đường hàng không). Tất nhiên, vẫn còn rất nhiều điều thú vị khác khi bạn được học những môn mang tính nghiệp vụ rất cao do các giảng viên đầy kinh nghiệm ở các khoa Kinh tế giảng dạy. Tôi rất thích khoa đó và thực sự kính phục hiểu biết của họ cũng như tính hài hước của họ. Môn luật kinh doanh cũng khá thú vị. Sau đây là những kiến thức cốt lõi về phương thức thanh toán quốc tế:
1. Hình thức
Thực ra thanh toán quốc tế không nhất thiết phải bằng phương thức L/C. Có rất nhiều hình thức thanh toán quốc tế tùy thuộc vào cách thức và hoàn cảnh của vụ mua bán đó. Ví dụ, nếu khoảng cách không quá xa và số tiền không quá lớn bạn có thể thanh toán bằng tiền mặt, séc hoặc chuyển tiền. Tuy nhiên, rủi ro sẽ là tương đối lớn nếu bạn không hiểu tí tẹo gì về pháp luật và thực tế rằng việc bạn đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán luôn phải được xác nhận của một bên thứ 3 để đảm bảo quyền cho bạn sau này như ngân hàng - chú ý rằng trong các định chế tài chính thì chỉ có ngân hàng mới được phép thực hiện chức năng thanh toán hợp pháp cho công ty bạn. Tuy nhiên, trong mua bán hàng hoá quốc tế, bạn nên chú ý một số điều sau đây: khoảng cách giữa các cá nhân xa, hệ thống pháp luật không đồng nhất, khó giải quyết các tranh chấp kể các bên có thống nhất trong hợp đồng về phương thức giải quyết tranh chấp đi chăng nữa thì rất khó để cưỡng chế cá nhân nước ngoài phải thanh toán hay bồi thường cho bạn trừ khi họ muốn vậy. Chính vì thế, để đảm bảo bạn được thanh toán khi giao hàng thì bạn nên nhờ đến một bên thứ 3 có uy tín giữa hai có thể cưỡng chế đối tác bằng cách phong tỏa tài khoản và chuyển một vấn đề quốc tế thành vấn đề luật pháp có thể giải quyết trong nội bộ nhờ sức mạnh của thế giới tài chính: Ngân hàng. Với sự giúp đỡ của ngân hàng, bạn có thêm một số lựa chọn an toàn hơn (không có hình thức thanh toán nào là tuyệt đối an toàn. Vẫn tồn tại rủi ro bạn sẽ không nhận được một xu nào. Đối tác của bạn có thể quỵt tiền một cách trắng trợn đầy hợp pháp. Tôi sẽ viết về điều này khi nói về các điều luật): nhờ thu kèm chứng từ hoặc nhờ thu không kèm chứng từ, hoặc phương thức thanh toán bằng L/C. L/C có lẽ là phương thức thanh toán phổ biến nhất trong giao dịch thương mại quốc tế từ trước đến nay và không phải ngẫu nhiên các chuyên gia về luật vẫn hay khuyên bạn dùng phương thức này nhưng vẫn cần phải cẩn thận với nó.
Lưu ý: Có một sai lầm tai hại rằng người ta thường tuyệt đối hóa vấn đề. Ai bảo với bạn rằng L/C chỉ dùng khi buôn bán hàng hóa quốc tế. Để đảm bảo an toàn với những thương vụ lớn và tránh nợ xấu, ngay cả mua bán hàng hóa trong nước, bạn cũng nên tiến hành thanh toán bằng L/C bởi đây là phương thức ràng buộc pháp lý khá mạnh giữa các pháp nhân cho nên công ty bạn có thể giảm thiểu rủi ro về việc thằng đối tác của bạn không trả tiền. Còn quy trình thanh toán L/C và khía cạnh pháp lý sẽ được tôi trình bày sau đây.
2. Quy trình thanh toán bằng L/C: Nếu có thời gian ngồi vẽ sơ đồ thanh toán bằng L/C thì sẽ dễ dàng hơn cho các bạn khi theo dõi một quy trình thanh toán khép kín có mặt của 4 bên: A, đại diện ngân hàng cho A, B và đại diện ngân hàng cho B trong thanh toán. Tuy nhiên, để nhanh chóng, cho phép tôi trình bày ngắn gọn. Tôi sẽ chú thích các lưu ý luôn trong từng mục thay vì việc viết tách phân lưu ý ra như phong cách trước đây.
2.1. Hai pháp nhân ký kết hợp đồng thương mại quốc tế và thống nhất phương án thanh toán bằng L/C. Hãy nhớ rằng mọi thứ trong hợp đồng phải càng rõ ràng càng tốt. Tranh chấp xảy ra chủ yếu không phải là do các bên cố tình lừa đảo nhau mà là do các bên không hiểu nhau. Mục đích về kinh tế có thể khiến đối tác lâu năm trở mặt thành thù chứ chưa nói đến việc mua bán hàng hóa quốc tế vốn có tính chất khá phức tạp. Hãy tuân thủ đúng hợp đồng.
2.2. Bên mua làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người thụ hưởng là bên bán. Lát tôi sẽ viết về những lưu ý về mặt pháp lý.
2.3. Ngân hàng đại diện cho bên mua (A) mở L/C theo đúng yêu cầu của người mua (B) và chuyển L/C sang ngân hàng thông báo (ngân hàng đại diện cho bên mua) để báo cho người bán biết về việc thư tín dụng đã được mở. Bạn nên xác nhận thằng đối tác của mình đã nhận được thông báo hay chưa bởi vì rất có thể hắn sẽ nói sau này nếu tranh chấp là nó chưa nhận được thông báo mở L/C của bạn. Và trong trường hợp ngược lại bạn cũng nên làm tương tự để đảm bảo giá trị pháp lý cho hợp đồng của bạn.
2.4. Ngân hàng đại diện cho bên bán thông báo và chuyển bản gốc L/C cho người bán. Nhớ kiểm tra L/C thật cẩn thận.
2.5. Người bán xem xét L/C so với hợp đồng để đề nghị sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hoặc chấp nhận giao hàng. Nên quy định mọi thứ rõ ràng ngay từ đầu và bạn nên áp dụng một chút lý thuyết trò chơi để lường trước tất cả các trường hợp dù là nhỏ nhất có thể xảy ra. Tránh thay đổi sau này bởi sẽ rất bất lợi cho bạn trong đàm phán sau này, giá trị pháp lý không cao như bản gốc. Hãy tập thói quen làm việc chặt chẽ, tránh kiểu làm ăn: “Tin tưởng nhau là chính”. Hãy tiến hành mọi biện pháp để bảo vệ an toàn cho bạn nếu có thể. Tốn thời gian một chút nhưng bạn xây dựng được uy tín, lòng tin ở đối tác cũng như tránh được một mớ các rủi ro
2.6. Người bán lập bộ chứng từ thanh toán sau khi giao hàng và gửi đến ngân hàng thông báo để được thanh toán.
2.7. Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng mở L/C.
2.8. Ngân hàng mở L/C tiến hành kiểm tra bộ chứng từ. Nếu chứng từ phù hợp với L/C thì tiến hành thanh toán cho ngân hàng thông báo. Nếu chứng từ không phù hợp với L/C thì từ chối thanh toán và trả lại bộ chứng từ.
2.9. Ngân hàng thông báo L/C ghi có và báo có cho người bán.
2.10. Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người mua.
2.11. Người mua xem xét chấp nhận trả tiền cho ngân hàng mở L/C.
2.12. Ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ cho người mua để nhận hàng.
3. Khía cạnh pháp lý: Làm sao để đảm bảo ngân hàng thanh toán cho bạn? Khi ngân hàng từ chối thanh toán thì phải xử lý thế nào?
Có hai điều khi bạn tiến hành thanh toán bằng L/C. Điều số 1: Ngân hàng không làm việc dựa trên hợp đồng của các bạn, ngân hàng chỉ làm việc dựa trên L/C. Điều số 2 là đừng quên điều số 1. Thằng đối tác là thằng mở L/C (giáp lưng) và nó có quy định về các giấy tờ cần thiết trong bộ chứng từ cần thiết để mang đến ngân hàng và đòi thanh toán. Và các giấy tờ mà thằng đối tác nó yêu đề cập khi mở L/C ở ngân hàng đại diện cho nó có thể có một số giấy tờ hoàn toàn khác so với những gì đã quy định trong hợp đồng. Chính vì thế, khi nhận được thông báo từ ngân hàng đại diện cho bạn, hãy kiểm tra thật kỹ danh sách các chứng từ mà bạn cần thu thập xem nó có trùng khớp nhau không? Nếu không trùng khớp thì bạn nên thông báo với thằng đối tác của bạn để sửa lại L/C cho phù hợp với hợp đồng. Bởi nếu bạn thu thập chứng từ chỉ dựa trên hợp đồng thì ngân hàng sẽ từ chối thanh toán. Sẽ rất phiền phức đầy vì thằng đối tác nó lấy hàng rồi, còn tiền thì bạn không nhận được xu nào. Đối chiến theo hợp đồng trong điều khoản thanh toán thì bạn có thể đã vi phạm hợp đồng và đừng mong nhận được xu nào trừ khi đối tác của bạn là kẻ tử tế như Đường Tăng chẳng hạn.
Một chú ý khác cũng không cần đòi hỏi quá nhiều thời gian của bạn là bạn cần phải so sánh thời gian L/C hết hạn và thời gian bạn thu thập các chứng từ. Một số chứng từ có thể quy định như: biên bản nhận hàng. Bạn cần phải hiểu ý nghĩa của các con số ở chỗ này. Điều này đòi hỏi bạn không chỉ có ngồi trong thư viện mà biết hết được mà cần một chút kinh nghiệm ở đây. Đối tác của bạn có thể mở L/C có thời hạn 30 ngày kể từ lúc bạn giao hàng và ngân hàng chỉ chấp nhận thanh toán trong khoảng thời gian đó. Lời khuyên là nên yêu cầu đối tác của bạn mở L/C trong thời hạn khoảng 90 ngày vì rất nhiều lý do. Ví dụ: bạn cần thu thập giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Một số nước như Philipines thì bạn có thể mua được giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa này nhưng ở một số quốc gia khác thì không dễ thế và cần đến 60 ngày để có được giấy chứng nhận đó. Hay biên bản hàng rời, biên bản hàng nguyên, giấy kiểm dịch độngt thực vật vân vân và vân vân. Rất có thể 30 ngày là không đủ cho nên bạn cần xem xét L/C để xem bạn có thể thu nhập các giấy chứng nhận cần thiết trong khoảng thời gian L/C không và yêu cầu thằng đối tác mở L/C thay đổi cho phù hợp. Hoặc yêu cầu kéo dài thời gian L/C có hiệu lực trong khoảng 90 ngày. Đây là một điểm rất quan trọng mà chẳng mấy công ty của Việt Nam chú ý cả trong khi bọn nước ngoài quá quen với việc làm ăn chặt chẽ rồi nên rất ít mắc lỗi. Đó là những khía cạnh liên quan đến pháp lý trong thương mại quốc tế.
Bạn bị ngân hàng từ chối thanh toán do bộ chứng từ không phù hợp và thời hạn của L/C sắp hết thì xử lý thế nào? Bạn có thể liên hệ với thằng đối tác để bảo lãnh cho bạn. Ngân hàng lúc này sẽ chấp nhận thanh toán. Hoặc cách khác là bạn có thể xin ngân hàng đại diện cho bạn viết đơn bảo lãnh cho bạn. Cách xử lý cuối tuy hơi kém hiệu quả nhưng nếu công ty bạn đang cần nguồn tiền gấp thì cũng có thể áp dụng: gọi trực tiếp đến ngân hàng thằng đối tác và cam kết hàng đã được giao để ngân hàng thanh toán L/C cho bạn.
Tài liệu tham khảo: Thanh Toán Quốc Tế, Giao Nhận và Vận tải trong Ngoại Thương, Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế, UCP 600.
no image
     Bài viết không phải dưới dạng học thuật, ngôn ngữ bình thường như đang trò chuyện với bạn bè. Và mình chủ ý viết như vậy để bài viết về kinh tế đỡ nhàm chán và khô cứng.

   Incoterms 2010 - Bộ tập quán về                      thương mại quốc tế
Điểm phân biệt sinh viên ngoại thương và sinh viên trường khác khi học về thương mại quốc tế là: INcoterms và thanh toán L/C.Hiểu được cặn kẽ, đến khi làm hợp đồng sẽ ít sơ hở và bạn hoàn toàn có thể tham mưu được cho sếp của bạn. Đây là bộ các tập quán thương mại quốc tế do phòng thương mại quốc tế ICC phát hành thường là 10 năm cập nhật một lần để phù hợp hơn với tình hình phát triển của thương mại quốc tế. Nó chỉ quy định các điều kiện về cơ sở giao hàng và không hơn. Đừng cố bổ sung thêm điều kiện hay thuật ngữ khi sử dụng nó nếu bạn không muốn bị thằng đối tác từ chối thanh toán một cách trắng trợn luôn. Công ty bạn thì nhỏ như con muỗi, làm sao chi phí cho một chuyến bay sang Canada và một vụ kiện chỉ về lô hàng giá chỉ có 200.000 USD nhưng kéo dài gần 1 năm được? Cho nên đã dùng thì nên dùng chính xác luôn và gọi tên nó đúng quy định quốc tế áp dụng. Tuy nhiên, nó thường đi sau sự phát triển thực tế của thương mại quốc tế cho nên khi sử dụng bộ tập quán này, bạn cần phải thật cẩn thận nếu không rất có thể bạn sẽ không nhận được tiền hoặc bị ngân hàng từ chối thanh toán do liên quan đến phương thức thanh toán phổ biến nhất trong thương mại quốc tế L/C (Đọc thêm UCP600 nếu bạn có thời gian rảnh). Tôi sẽ viết về phương thức thanh toán thư tín dụng này sau. Bây giờ là một số lưu ý nếu bạn thi cuối kỳ môn này.
 Trên lớp giáo viên hẳn sẽ nói với bạn rằng cần đọc từ A 1/B1 đến A10/ B10. Nhưng thực tế rằng kiểu đọc đó sẽ làm bạn bị rối và chẳng thể nhớ nổi. Thay vì thế hãy học những thứ khô cứng một cách đầy sáng tạo.
Làm sao để có thể nhớ được các điều kiện giao hàng? Theo tôi nghĩ thì cách học của bạn sẽ quyết định điều này. Tốt nhất là nên học theo hướng sắp xếp các điều kiện của Incoterms theo thứ tự tăng dần trách nhiệm của người bán hoặc người mua vì đi thi cô giáo cũng hỏi như vậy. Tôi thì ưa thích việc viết theo thứ tự tăng dần trách nhiệm của người bán. Sau đây là trình bày tóm tắt về 10 điều kiện cơ bản của các điều kiện này. Nếu muốn được 9 thì chưa đủ nhưng được 8 thì học thế này là thừa vì việc bạn hiểu và trình bày quan điểm của mình trôi chảy quan trọng việc đọc thuộc cả bộ tập quán, cho nên để tiết kiệm thời gian, tôi xin được trình bày như sau:
1. EXW (Ex-works) (Chú ý là đọc cả cách ghi của nó trong hợp đồng và trong L/C nhé): Giao hàng tại xưởng. Nghĩa vụ thấp nhất dành cho người bán. Ví dụ, tôi có lô hàng. Tôi chẳng phải chịu bất cứ chi phí nào từ xin giấy phép xuất khẩu đến thuê phương tiện hay mua bảo hiểm cho hàng hóa. Chỉ việc giao hàng tại xưởng hoặc tại 1 điểm quy định thuận tiện cho 2 bên giao dịch. Sau khi học luật thì tôi thấy rằng để đảm bảo thanh toán hãy tiến hành kiểm hàng và xin xác nhận của đại diện bên mua luôn. Sẽ ít phát sinh tranh chấp và L/C được thanh toán ngay cho người bán.
2. Nhóm F:
a. FCA: (Free Carrier): Giao hàng cho người chuyên chở. Người bán không chịu thêm nghĩa vụ nào kể từ khi hàng hóa được đặt lên xe của thằng chuyên chở được công ty thằng mua ủy quyền đến. Chú ý rằng nếu hàng hóa có vấn đề thì thằng chuyên chở không chịu trách nhiệm nào cả. Tranh chấp phát sinh ở chỗ này đây. Cho nên hãy xin xác nhận đã nhận hàng đầy đủ của thằng chuyên chở và lưu lại thông tin tình trạng hàng hóa đầy đủ để chứng minh rằng hàng hóa chất lượng đúng như hợp đồng.
b. FAS: (Free Alongside): Giao hàng dọc mạn tàu. Đứng trên cương vị thằng bán lô hàng A như trên, giờ tôi giờ phải tự thuê phương tiện để chở hàng và xếp dọc mạn tàu. Sau khi xếp hàng dọc mạn tàu thì hết nghĩa vụ.
Chú ý rằng FAS có thể khiến người bán phát sinh thêm nhiều loại chi phí do hàng hóa nếu không được chuyển đi ngay sẽ phải thuê kho bãi của cảng. Tốn thêm chi phí.
c. FOB: (Free On Board): Đi thi mình gặp câu về FOB nên giờ ký ức về nó vẫn khá tươi đẹp. Người bán miễn trách cho đến khi hàng hóa được đặt ổn định, an toàn trên tàu.
Chú ý: Khi sử dụng điều kiện FOB thì nên nhớ rằng bạn có thêm nghĩa vụ làm thủ tục và chịu chi phí thông quan xuất khẩu ở cảng đi nữa.
FOB 2000 quy định là người bán hết nghĩa vụ đến khi hàng hóa được cần cẩu chuyển qua lan can tàu. Tại sao người ta phải thay đổi. Thứ nhất, nếu hàng hóa rơi khỏi móc mà chính tại vị trí lan can thì trách nhiệm thuộc về ai khi mà một nửa container qua lan can tàu và một nửa chưa qua lan can. Đã từng có rất nhiều tranh chấp liên quan đến điều kiện này trong 10 năm qua. Thứ 2: Hàng hóa bị hư hại khi được xếp lên tàu thì ai chịu trách nhiệm. lại phát sinh tranh chấp ở chỗ này. Cho nên những luật sư hàng đầu trên thế giới làm việc cho ICC mới quyết định thay đổi là hàng hóa được đặt trên sàn tàu.
3. Nhóm C: Người bán sẽ lo thêm chi phí chuyên chở bằng đường biển và chi phí về bảo hiểm trong quá trình vận chuyển hàng hóa.
a. CFR (Cost and Freight): FOB + F (frieght) Tiền hàng + cước phí thuê tàu. Nó quá rõ ràng để có thể giải thích thêm. Bạn chịu chi phí: thuê phương tiện chở hàng đến cảng, tự thuê tàu, tự làm thủ tục thông quan xuất khẩu và hết nghĩa vụ khi hàng hóa được đặt an toàn và nguyên vẹn trên boong tàu. Điểm chuyển giao rủi ro: Sàn tàu, điểm chuyển giao chi phí:: Cảng đích.
Lặp lại lần cuối: Hãy đọc cách ghi trong hợp đồng của điều kiện này trong bộ tập quán có viết rõ đấy.
b. CIF (Cost Insurance and Freight) Thực ra đọc cái tên tiếng Anh cũng hiểu nó gồm cái gì rồi phải không. CIF = CFR+ I (bảo hiểm). Điều kiện giống hệt CFR và bạn phải mua thêm bảo hiểm khi hàng hóa đến cảng đích. Điểm chuyển giao rủi ro và chi phí đều là khi hàng hóa cập cảng đích là xong. Sinh viên ngoại thương ra trường thường biết đến với cái khẩu hiệu lúc nào cũng treo trước ngực một cách tưởng tượng: Mua FOB bán CIF. Tại sao lại nên bán CIF và mua theo giá FOB thay vì ngược lại như truyền thống. Thứ nhất, đội tàu của ta đã phát triển. Thứ 2: bạn chủ động hơn trong việc gom hàng, không chịu nhiều ràng buộc về thời gian tàu đi nên giảm được rủi ro. Thứ 3, tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia vì tất cả chi phí này đều được thằng mua thanh toán sau trong hợp đồng nên bạn yên tâm là không phải bạn trích tiền từ lợi nhuận bán lô hàng đó. Do đó, để thể hiện lòng yêu nước của một thanh niên nghiêm túc, và để tạo thêm công ăn việc làm cho quốc gia, hãy tìm cách để đảm nhận vai trò lớn hơn trong giao nhận hàng hóa. Nó cũng giúp bảo đảm cán cân thanh toán cho đất nước do thu được thêm ngoại tệ. Chúng ta có quy định tài chính rất thú vị trên tầm vĩ mô: Mọi giao dịch trong lãnh thổ Việt Nam phải được thanh toán bằng VND. Chú ý ghi trong hợp đồng Xuất Khẩu Tại Chỗ cho cẩn thận không lại ra hầu tòa mà không hiểu em làm sai chuyện gì. Tất nhiên, đối tác có thể thanh toán bằng Đô la rồi bạn đổi ra tiền Việt sau nhưng nếu là Xuất khẩu tại chỗ thì trong hợp đồng hãy ghi giá B VND trước còn thằng kia nó thanh toán bằng đô cũng được. Đến lúc này thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý trên lãnh thổ Việt Nam và được nhà nước bảo kê quyền lợi nhé.
Chú ý 2: I là bảo hiểm và bạn phải mua bảo hiểm tối thiểu là 110% giá trị lô hàng. ờ. Cái bảo hiểm trong ngoại thương này rất thú vị và công việc thì rất là tiềm năng luôn.Rồi tôi sẽ có một bài viết hoàn chính về lĩnh vực bảo hiểm trong ngoại thương. Nó hay vô cùng. Còn tại sao là thấp nhất phải là 110% giá trị lô hàng. Cái dôi ra 10% đó là các chi phí tìm đối tác, đàm phán, ký kết, giao nhận, vận tải... để có thương vụ đó. Cho nên bảo hiểm nó bù đắp thêm cả chi phí này nữa. Tất nhiên, giá của bảo hiểm không phải là 110% giá trị lô hàng đâu. Công ty bảo hiểm sẽ thanh toán số tiền 110% giá trị lô hàng nếu hàng của bạn rơi xuống biển nuôi cá. Thằng bảo hiểm này quá thú vị đến nỗi tôi phải dành đến 2 tuần đề tập hợp đủ các thể loại tài liệu về nó.
Chú ý 3: Người ta cũng dùng CIF khi thằng mua nằm sâu trong nội địa và muốn mình chuyển hàng cho nó.
c. CPT: Carriage Paid to : Cước phí trả tới. Cái này ít dùng do khá phiền phức cho thằng bán khi phải thuê phương tiện chở đến nơi cho thằng mua nếu thằng mua nằm ở châu lục khác chẳng hạn. Cho nên nó ít dùng hơn CIF.
CPT= CIF + F (Cước phí vận chuyển từ cảng đến tận nơi giao hẹn của thằng mua hàng. Thằng bán tăng thêm chút nghĩa vụ).
d. CIP : Cost and Insurance Paid to: Cước phí + bảo hiểm trả tới.
CIP = CPT + I (Bảo hiểm trên đất thằng khác kể từ khi hàng cập bến đích đến khi hàng hóa giao tận tay trên đất thằng mua).
Chú ý:
+trách nhiệm thằng bán tăng dần như sau: CFR -> CIF -> CIP -> CPT
+ CIP và CPT áp dụng được với vận tải đường bộ, đường thủy, đường hàng không và vận tải đa phương thức (MTO)
4. Nhóm D:
a. DAT: Delivery at Terminal
Khi hàng hóa được dỡ ra khỏi phương tiện vận tải đến cảng quy định. Người bán chịu rủi ro đến khi thằng mua đến lấy hàng và xác nhận: “ờ, tao nhận được hàng rồi” (Nói chơi thôi) trong một văn bản cụ thể nào đó.
Phân biệt tí chút: Nếu người mua muốn chịu chi phí thông quan nhập khẩu và rủi ro thì nên dùng DAP.
Nếu bên mua muốn người bán làm thủ tục thông quan nhập khẩu, rủi ro, trả thuế, chi phí liên quan đến nhập khẩu khác thì nên dùng DDP.
b. DAP: Delivery at Place: Giao hàng tại nơi đến. người bán chịu mọi rủi ro, chi phí đến khi hàng được bốc ra khỏi phương tiện vận chuyển dưới sự định đoạt của người mua.
c. DDP: Giao hàng đã thông quan, nhập khẩu. Người mua có nghĩa vụ cao nhất và chịu rủi ro cao nhất.
. Phạm vi điều chỉnh của Incoterms. Dính một tẹo đến luật thương mại quốc tế đây này.
- Incoterms chỉ cung cấp một bộ quy tắc quốc tế giải thích những điều kiện thương mại trong ngoại thương nhằm tránh các vụ kiện tụng do các bên không hiểu nhau. Ví dụ, cùng một điều kiện FOB nhưng ở Mỹ và ở Pháp có 2 cách hiểu khác nhau và có quy định cũng khác nhau. Cho nên khi ghi vào hợp đồng là phải ghi rõ: theo điều kiện FOB cảng nào đó +Incoterms 2010......
- Nó phân chia quyền và nghĩa vụ các bên khi giao nhận hàng hóa. Nghe có vẻ đơn giản nhưng hầu hết kiện tụng đều do những yếu tố hiểu sai lệch các điểm cơ bản đó.
- Nó chỉ là để tham khảo và được các luật sư hàng đầu thế giới khuyến khích sử dụng chứ không ép buộc.
- Quy định về điểm chuyển giao rủi ro khác với chuyển quyền sở hữu. Hãy lưu ý khi làm hợp đồng với khách.
- Bạn có thể thay đổi chút ít về điều kiện giao hàng và chi phí nhưng phải chú thích rõ ràng và điều này thì không được khuyến khích bởi nó dễ dẫn đến tranh chấp và khó xác định giá trị pháp lý rõ ràng. Cái gì rõ ràng, dễ áp dụng thì nên dùng. Tranh chấp là điều không ai muốn, nên hãy quy định thống nhất, rõ ràng, đơn giản và hạn chế bổ sung.
....... Còn gì nữa nhỉ? Nếu có câu hỏi thì bình luận bên dưới nhé.
Chủ đề tiếp theo: Thư tín dụng (L/C).